
TS. Nguyễn Việt
BBT: Do dung lượng phần viết về ” Năng lực mô tả của nền Mỹ thuật Đông Sơn” quá lớn, chúng tôi đề nghị tác giả phân thành nhiều phần nhỏ hơn. Số báo trước, chúng tôi đã đăng tải phần đầu với bằng chứng mô tả lễ hội mùa hay lễ tôn vinh thủ lĩnh, chủ nhân. Trong số này, chúng tôi tiếp tục giới thiệu Mỹ thuật mô tả Đông Sơn thông qua lễ hội thuyền. Phần tiếp sau sẽ giới thiệu ví dụ mỹ thuật mô tả thứ ba về cảnh săn hươu. Để nhắc lại, chúng tôi sử dụng phần mở đầu chung cho mỗi phần.

Xã hội Đông Sơn bước vào ngưỡng cửa văn minh mang trong mình những lễ hội truyền thống dần định hình thành nghi lễ mang tính quốc gia. Sự thể hiện tương đối định hình của một số lễ hội thông qua nghệ thuật trang trí trên đồ đồng cho phép ta bước đầu rút ra một số nhận định về năng lực mô tả của nền mỹ thuật thời Đông Sơn.
Chúng ta đã dõi theo tiến trình hình thành và phát triển của mỹ thuật tiền sử Việt Nam, từ trong văn hóa Hòa Bình, Đa Bút của những cư dân sống chủ yếu dựa vào nguồn lương thực do săn bắt, hái lượm trong tự nhiên mà có, đến những xã hội làm nông sớm thuộc bình tuyến Phùng Nguyên. Cho đến trước khi xuất hiện văn hóa Đông Sơn thì các biểu hiện mỹ thuật nguyên thủy Việt Nam mới chỉ đạt đến mức mô tả từng đối tượng trực quan đơn lẻ (ví dụ hình cây, lá, hình một con vật hay một con người…) chứ chưa bao giờ đạt khả năng mô tả một sự việc với một chuỗi liên hoàn gắn kết hữu cơ các đối tượng trực quan đơn lẻ thành một sự kiện. Vì thế, dù vẫn chỉ dừng ở mức độ mỹ thuật ứng dụng, nhằm trang trí cho một đồ vật có chức năng sử dụng trong đời sống hàng ngày, nhưng nhiều mảng trang trí Đông Sơn bắt đầu mang yếu tố một tác phẩm mỹ thuật độc lập. Tức là chúng được tạo ra nhằm mục đích “kể” về một câu chuyện, một sự kiện xã hội cụ thể.
Tư duy loài người hiện đại là cả một quá trình phát triển, hoàn thiện theo thời gian. Đó là một quá trình phản ánh thế giới ngoại biên, nội sinh và tích lũy những trải nghiệm của loài người trong cuộc sống lao động, sáng tạo thường nhật. Bộ não người có khối lượng định hình như chúng ta hiện có mới chỉ xuất hiện cách ngày nay chừng 50.000 năm, được đánh dấu bằng hiện tượng người homo sapiens. Bằng chứng của những biểu hiện thẩm mỹ đầu tiên cũng ra đời vào khoảng này, và từ đó lịch sử tư duy thẩm mỹ cũng bắt đầu.
Ngay từ đầu, bản chất của mỹ thuật đã hàm chứa năng lực mô tả. Sự phát triển của mỹ thuật loài người trong thời kỳ tiền sử cũng đồng thời với tiến bộ của năng lực mô tả đó. Thoạt đầu người ta mới chỉ dừng ở khả năng quan sát và mô tả từng “vật” đơn lẻ: vạch thẳng, quả núi, cây, con, mặt người nhìn thẳng… (thời đại đá cũ). Sau đó là những “sự vật”, tức các hiện tượng liên quan đến các “vật đó”: con thú chạy, giơ chân, người bụng to, vú to – mẹ, mặt người cười, có râu, mũi to hoặc mồm to (hậu kỳ đá cũ, sơ kỳ đá mới). Tiếp nữa là sự mô tả mở rộng giữa “vật”, “sự vật” với những mối quan hệ đến các “vật”, “sự vật” khác: con thú vồ con mồi, đi tơ, nuôi con…, người đánh bắt nhau, yêu nhau, nhảy múa cùng nhau, đi săn thú, hái quả… (hậu kỳ đá mới, sơ kỳ kim khí). Và trong thời tiền sử muộn, khi xã hội loài người ngấp nghé ở ngưỡng cửa văn minh, cùng với xuất hiện của tư duy sử thi, ý thức cộng đồng, nguồn cội thì cũng xuất hiện những tác phẩm mỹ thuật thể hiện rõ năng lực mô tả sự kiện, câu chuyện. Trong đó, nhiều nhóm sự vật độc lập được bố cục, liên kết lại để nhằm lột tả một “câu chuyện” rộng lớn hơn. Năng lực mô tả Đông Sơn nằm ở giai đoạn phát triển này.
Với những dàn cảnh mô tả hoạt động xã hội của cư dân đương thời thông qua các đồ án trang trí trên đồ đồng, nghệ nhân Đông Sơn đã làm ra một bước nhảy vọt trong tiến trình mỹ thuật tiền sử Việt Nam. Bước nhảy vọt này phản ánh sự trưởng thành vượt bậc trong tư duy nhận thức của nghệ nhân và năng lực chuyển tải của nền mỹ thuật đương đại.
Bài này giới thiệu những bằng chứng chính yếu nhất của năng lực mô tả trong nền mỹ thuật Đông Sơn với tư cách đánh dấu đỉnh cao nhất trong tư duy thẩm mỹ và khả năng thể hiện của nền mỹ thuật này.

Ảnh phải: Hình thuyền chèo chải trên tang trống đồng Đông Sơn (mộ La Bạc Loan, Quảng Tây, Trung Quốc). Hiện vật của Bảo tàng Quảng Tây.

Ví dụ thứ nhất
Nghệ thuật mô tả ”Nghi lễ hội mùa
(hay lễ dâng cúng thần thánh, thủ lĩnh)”
Phần này đã được trích đăng trong số NCMT 34
Ví dụ thứ hai
Lễ hội đua thuyền
Hầu hết tang các trống đồng và băng trang trí chính trên thân những thạp lễ nghi của văn hoá Đông Sơn đều dành cho một nội dung có tính công thức, đó là thuyền và người trên thuyền. Thuyền Đông Sơn còn là nội dung phổ biến khi trang trí rìu chiến, tấm che ngực cho các thủ lĩnh. Ở đây tạm thời chúng ta không bàn đến phân loại thuyền mà chỉ chú trọng đến nội dung mô tả người trên thuyền để tìm ra nội dung nghệ nhân Đông Sơn muốn mô tả. Thống kê hình người mô tả trên thuyền ta có thể nhận thấy bốn loại người chính được mô tả trên các thuyền đó: 1- Người chèo và lái thuyền, 2- Người vũ trang (tay cầm vũ khí giáo, lao, rìu, dao găm, cung tên, kiếm, mộc và đầu lâu người), 3- Những người ngồi không bên đồ đồng dùng trong nghi lễ và 4- Tù nhân. Sự khác biệt trong chi tiết thể hiện ở số lượng, vị trí và cách thức hoạt động của những thành phần nhóm người nói trên. Tuỳ loại hình trống, thạp được phân loại theo sớm muộn hay theo địa vực, theo kiểu dáng mà nội dung thuyền chở người có khác nhau.
Trước hết có thể khẳng định, đa số các thuyền được thể hiện đều là thuyền độc mộc có trang trí đầu linh thú ở mũi thuyền. Thuyền độc mộc được xác nhận bằng việc khai quật khảo cổ học đã phát hiện những chiếc thuyền Đông Sơn thực sự (như ở Động Xá, Hưng Yên) và gần hai trăm quan tài tạo dáng kiểu thuyền độc mộc. Chiếc thuyền loại nhỏ ở Động Xá dài khoảng 5m, rộng 0,80m, mạn thuyền có chốt để cơi cao thêm tới 50cm bằng việc ghép thêm một hoặc hai hàng ván#. Chiếc quan tài Việt Khê trưng bày ở Bảo tàng Lịch sử Việt Nam được nhà khảo cổ học Úc là giáo sư Peter Bellwood cho là một phần của thuyền độc mộc, dài gần 6 mét mà vẫn chưa thấy xu hướng thu nhỏ lại của đầu thuyền. Phục nguyên chiếc thuyền khi còn nguyên dự kiến phải dài trên dưới 10 mét.
Trên các hình trang trí, hướng chạy của các thuyền trên trống, thạp hầu hết đều mang phong cách chuẩn Đông Sơn, tức theo chiều ngược kim đồng hồ chạy. Số lượng người trên thuyền rất khác nhau, nhiều nhất có tới gần 20 người, ít nhất chỉ có một người. Sự thể hiện chức năng của thuyền ở những tiêu bản có sức phản ánh rõ rệt nhất cho thấy nghệ nhân Đông Sơn đều muốn mô tả hai loại hình trình diễn thuyền: Diễu hành thuyền gắn với lễ khải hoàn sau chiến thắng và Đua thuyền chèo chải trong một lễ hội mùa nào đó.
Trong khi mô tả cảnh Diễu hành thuyền trong lễ khải hoàn mọi thành viên trên thuyền đều được trang phục lễ hội với lông chim cắm trên đầu và khố váy dài rộng. Vũ khí (rìu chiến, qua, dao găm, cung nỏ và giáo lao) là những đạo cụ không thể thiếu ở các loại thuyền này. Các chiến binh cầm vũ khí đứng rải trên mạn thuyền, ngoài ra có ba vị trí chiến binh khá ổn định trên thuyền chiến, đó là người cầm rìu đứng trước mũi thuyền, người đánh trống đứng giữa thuyền và người đà công (chèo lái) đứng cuối thuyền. Trên những thuyền chiến được mô tả kỹ như thuyền trên trống Ngọc Lũ, trên thạp Triệu Đà (Barbier-Mueller Museum, Geneva), thạp Triệu Muội (Nam Việt vương mộ, Quảng Châu) còn thống nhất ghi nhận thêm ba dữ kiện phản ánh lễ diễu khải hoàn. Thứ nhất, đó là sạp lầu ở phía đuôi thuyền, phía trước người chèo lái. Bên trên sạp lầu thường có người bắn cung nỏ, bên dưới chứa đồ đồng chiến lợi phẩm. Những đồ chiến lợi phẩm này đôi khi được mô tả ở giữa thuyền, bên cạnh tù binh và người gõ trống. Thứ hai, là những tù binh và đầu lâu những người thất trận. Tù binh đều không ăn mặc gì, người nhỏ thó, đầu trần, tay bị trói quặt cánh khuỷu và luôn được thể hiện quay ngược chiều với toàn bộ chiến binh và hướng chạy của con thuyền. Đầu lâu kẻ địch là một mớ tóc sõa và phần mặt người có ngấn miệng và vòng tròn đồng tâm thể hiện mắt. Những đầu lâu này được cầm trên tay chiến binh hay được treo trên đầu thuyền chiến. Thứ ba, là một hoặc một số cột trụ có trang trí như dạng cây nêu dùng để làm lễ tế.
Băng thuyền trong các lễ diễu khải hoàn thường được dùng thủ pháp trang trí điền kín. Trên các khe hở ở giữa các khoảng cờ quạt, lông chim, nghệ nhân điền vào đó các con chim bay thể hiện “trời”. Bên dưới, ở khoảng trống giữa các đầu cong đuôi và mũi thuyền, nghệ nhân điền vào hình các loài thủy tộc như cá, rùa, chim bắt cá và đôi khi cả cá sấu hay rái cá, thể hiện “đất, nước”. Với nội dung mô tả biểu tượng đất trời, nghệ nhân Đông Sơn đã khiến cho bức tranh mô tả lễ khải hoàn Đông Sơn trở nên hoàn chỉnh, hoành tráng.
Một nội dung mô tả thuyền khác được thể hiện nhiều hơn là đua thuyền chải. Trên các thuyền chải (thường có cấu trúc đơn giản hơn thuyền chiến), nghệ nhân tập trung thể hiện thuyền đang vận động với những thuỷ thủ đang ra sức chèo. Đa số người chèo thuyền ở trần, không vũ trang. Đó là những thuyền đua trong lễ hội bơi chải. Ngôn ngữ mô tả người chèo thuyền Đông Sơn khá thống nhất, đó là dáng người ngồi, chân gấp gối đưa về phía trước, hai tay cũng đưa thẳng về phía trước, kết thúc bằng hai mái chèo thể hiện dưới dạng hai que chĩa xuống phía dưới, xòe ra như hình chữ V. Ngoài số người ngồi chèo, trên một số thuyền có hình hai thành viên liên quan chặt chẽ đến đội thủy thủ chèo thuyền, đó là người bắt nhịp (hô, vung tay hoặc đánh trống) và người chèo lái.



Ảnh phải: Cảnh thuyền chở tru bị trong một lễ hội hiến tế (Trống đồng Ty Nguyn trong một sưu tập tư nhn tại California, Mỹ)

Hình ảnh đội thuyền chải được mô tả ổn định nhất có lẽ trên trống La Bạc Loan (Quảng Tây, Trung Quốc). Mặc dầu tìm được trong mộ một quan huyện lệnh Nam Việt, nhưng ai cũng nhận thấy đây là trống đồng bản địa Đông Sơn. Trên tang trống là hai cụm thuyền chải đối xứng như là hai đội thuyền chải đua tài với nhau, mỗi cụm gồm ba thuyền. Trên mỗi thuyền đều có bốn người chèo. Ở đầu mũi là một người cầm nhịp giơ một vật như một thanh gỗ gõ nhịp với phần trên to như đuôi cờ. Cuối thuyền có một người ngồi cầm chèo lái cong vút về phía sau để điều khiển hướng đi của thuyền. Sự khác biệt duy nhất giữa các thuyền là ở người chèo lái này. Như đã nói, mỗi cụm thuyền có ba chiếc thì trên hai chiếc đầu và cuối, người chèo lái không đội mũ lông chim mà để tóc búi hay thả dài đằng sau lưng. Trong khi đó hai người chèo thuyền ở giữa vẫn được đội mũ lông chim như mọi người khác.
Trên một số tang trống khác, xuất hiện loại thuyền dài, số người chèo thuyền có khi lên đến hàng chục người. Trên loại thuyền dài ở tang một trống Đông Sơn phát hiện ở vùng Nam Trung Quốc thể hiện một người bắt nhịp mặc áo dài, đeo kiếm đứng giữa thuyền. Ở một số tiêu bản Đông Sơn khác còn cho thấy một dạng người cầm nhịp luôn đứng ở đầu thuyền. Người chèo thuyền chải ở vùng núi thường để đầu trần (búi tó), trong khi ở đồng bằng thường để hai bím đuôi sam, bên trên đội mũ lễ hội cắm lông chim. Cách thể hiện mái chèo cho ta thấy đa số là loại chèo mái đôi, tức một người đẩy hai mái chèo một lúc.
Hầu như mọi nhà nghiên cứu đều nhất trí rằng nội dung lễ hội đua thuyền chải đã được lấy làm một trong những tâm điểm thể hiện trong nghệ thuật Đông Sơn. Nhận định này phù hợp với các nguồn tư liệu khác, như sử liệu chữ viết, tín ngưỡng và văn hoá dân gian của đồng bằng sông Hồng nói riêng và của cả khu vực Đông Nam Á cổ đại nói chung. Cho đến tận ngày nay, chúng ta dễ dàng bắt gặp vào dịp vui xuân hay vào các dịp lễ hội nước phong tục đua thuyền chải ở khắp vùng nông nghiệp lúa nước ở Đông Nam Á.
Mỹ thuật mô tả các lễ hội thuyền Đông Sơn góp phần cùng các tàn dư văn hóa thuyền bè, sông nước khác# tạo cho người xem cảm giác gần gũi, khác hẳn với những nền văn minh sông nước khác. Cách thể hiện thuyền, người, cá, chim, thú thấm đậm chất Đông Sơn tạo nên một phong cách không thể lẫn lộn, cho dù chúng được tách ra thành từng yếu tố hay phối trộn làm nên một cảnh sắc. Hoạt động khải hoàn sau chiến tranh hay chỉ là một lễ đua thuyền thuần túy được nghệ nhân Đông Sơn mô tả rành mạch thông qua ngôn ngữ mô tả tạo hình của mình. Tôi bỗng nhớ khi tôi kết thúc trình bày báo cáo khoa học về chiếc thạp Đông Sơn có thể của Triệu Đà tại Hội nghị quốc tế về Văn hóa Hán và nước Nam Việt tại Quảng Châu năm 2008, có một đại biểu Trung Quốc đứng lên chất vấn: “Làm sao ông có thể khẳng định các hình khắc trên thuyền là thuộc Văn hóa Đông Sơn”. Câu trả lời thật dễ dàng: “Bạn hãy nhìn những chiến binh trên thuyền, họ mang theo những vũ khí đặc trưng Đông Sơn, như rìu lưỡi xéo gót vuông, mũi hài, dao găm cán chữ T…”. Hội trường tỏ ý tán thành câu trả lời ngắn gọn của tôi, còn bản thân tôi thầm cảm ơn những nghệ nhân tạo hình Đông Sơn đã mô tả rất chân thực và sống động đồ đồng Đông Sơn được mang theo trên mình các chiến binh Đông Sơn của mình.
N.V
Bài đã in trên Nghiên Cứu Mỹ thuật Số 4 tháng 12 năm 2010
Xem bài trước: NĂNG LỰC MÔ TẢ CỦA NỀN MỸ THUẬT ĐÔNG SƠN (Bài 1)
Chú thích:
1. Bellwood, P. và nnk, 2006, Ancient Boats, Boat Timbers, and Locked Mortise and tenon Joints from Bronze-Iron Age Northern Vietnam, trong Nautical Archaeology.
2. Nguyễn Việt, 1980, Yếu tố sông nước trong văn hóa Việt Nam, trong Dân tộc học.

