HẬU THẦN VÀ TỤC BẦU, MUA, TÔN HẬU THẦN

PGS. TS Bùi Xuân Đính

Lời dẫn

Trong bàiNguồn gốc và thời điểm xuất hiện của ngôi đình làng Việt” trên trang “Đình làng Việt” (ngày 9/9/2025), tôi dẫn điều 319 (là một trong 55 điều được ban bố vào năm thứ năm niên hiệu Hồng Đức/Giáp Ngọ, 1474)  của sách “Hồng Đức thiện chính thư” (sách chép về các việc chính sự tốt thời Hông Đức), có nội dung “xử phạt những người bỏ bê việc giỗ chạp theo như khoán lệ” đối với “Nhà giàu đã bỏ tiền ra làm đình hay công đức làm chùa” và từ đó, đưa ra nhận định ‘Điều khoản này khẳng định đình và tục đặt – cúng hậu đình đã có từ thời đó’. Nhiều bạn gọi, nhắn tin, bảo tôi có bài về tục này. Vì vậy xin giới thiệu về tục đặt hậu đình – hình thức đặt hậu có giá trị tôn vinh cao nhất  so với các hình thức đặt hậu khác. Phần viết này đã được trình bày tại 2 mục trong cuốn sách của tôi “Bách khoa thư làng Việt cổ truyền” (Nxb. CTQG ST, 2021, tái bản 2022); nay gộp 2 bài làm một.

Các múc từ về đặt hậu, hậu thần trong sách “Bách khoa thư làng việt cổ truyền

Hậu thần

 Là việc Đặt hậu để được làng thờ và cúng giỗ tại đình. Ở đây ngoài việc phải hiến cho làng một lượng rất lớn ruộng, đất (có thể cả ao) và tiền để làng xây dựng, tu bổ các công trình công cộng (đình, chùa, cầu, đường sá…), người Đặt hậu (hay Mua hậu) còn phải là người có đức độ, uy tín; nếu không có được các yếu tố đó, làng không nhận. Nhiều trường hợp, làng còn xem xét nguồn gốc tài sản mà người muốn Đặt hậu có “quang minh chính đại” hay không. Quy định này mang ý nghĩa giáo dục và cả răn đe rất lớn.

Bia “Hậu thần Linh Quang bi ký” (làng Tân Độ, xã Dương Liệt, huyện Văn Giang, phủ Thuận An, trấn Kinh Bắc), dựng năm đầu niên hiệu Cảnh Trị (Quý Mão, 1663), trong sách “Văn bia thời Lê xưa Kinh Bắc và sự phản ánh sinh hoạt làng xã” của Phạm Thùy Vinh, Nxb. VHTT, 2003)

Ngoài Hậu thần là những người bỏ tiền để mua hay được bầu, hoặc dân làng vì thiếu tiền chi vào các việc công mà đặt ra một số suất Hậu thần với số tiền, số ruộng cụ thể phải đóng vào), trong các làng xã xưa kia còn có một dạng Hậu thần đặc biệt. 

  Ngoài những người có đức độ, đóng góp một lượng lớn tiền ruộng cho làng để xây dựng, tu bổ các công trình công cộng như việc đặt hậu (hay mua hậu, bầu hậu) nêu ở trên, trong làng xã xưa kia còn có những người có công lớn với làng bằng những việc khác, như giúp làng thắng kiện trong tranh chấp đất đai với các làng bên, giành lại một diện tích lớn ruộng đất; hoặc tự nguyện bỏ tiền của, thóc lúa…; giúp dân làng vượt qua trận đói lớn hoặc dịch bệnh lớn; ở một số làng, còn bao gồm cả người dũng cảm đánh cướp mà bị chết. Tất cả những người trên đây được làng tôn làm Hậu thần. Việc tôn vinh một người có những hành động, nghĩa cử cao đẹp làm Hậu thần thể hiện sự biết ơn của dân làng với những người có công, đạo lý “Uống nước nhớ nguồn” của các cộng đồng cư dân làng xã.

Giữa người được tôn làm Hậu thần với người đặt (mua) Hậu thần có những điểm giống nhau sau: 

– Có thể đã có vợ con hoặc chưa vợ con, được tôn làm Hậu thần khi còn sống (trừ trường hợp bị chết trong khi đánh cướp); 

– Sau khi chết, được lập ban thờ trong đình, thường ở tường đốc của gian cuối; được làng tế lễ vào ngày giỗ (cũng gọi là Giỗ hậu), làng sửa lễ (lễ mặn). Vào ngày hội làng, vong linh người được tôn làm Hậu thần được mời về dự hội. Con cháu của người đặt hậu được chia một phần lộc.

Còn điểm khác biệt là:

–  Người được tôn làm Hậu thần do làng đồng thuận suy tôn vì những hành động, nghĩa cử cao đẹp của họ; trong khi người Đặt hậu phải bỏ một lượng lớn tiền của ra mua (đóng góp trực tiếp bằng tiền, ruộng), hoặc thông qua việc xây dựng, sửa chữa một công trình chung của làng, đòi hỏi lượng kinh phí lớn) và nhiều trường hợp, người Đặt hậu không hẳn được sự đồng thuận, suy tôn của cả làng, nhất là bị người có mâu thuẫn trước đó, hoặc người của các dòng họ, phe phái đối lập.

– Chỉ có cá nhân người có nghĩa cử cao đẹp được tôn làm Hậu thần, trong khi người đặt hậu (hay mua hậu) có thể đặt cho cả ông bà, bố mẹ, vợ con họ.

– Ngày giỗ của người Hậu thần, lễ to hay nhỏ tùy điều kiện của làng từng năm, không phải theo quy định bắt buộc như Đặt hậu (được ghi trong bia); đối tượng và số lượng thành viên trong làng tham dự ngày giỗ Hậu thần, tùy thuộc điều kiện của làng, từng năm, song nhìn chung “bó hẹp” hơn rất nhiều so với ngày giỗ của người Đặt hậu. 

Một điểm khác biệt của Hậu thần là người Đặt hậu có thể không có con, nhưng cũng có thể có con, thậm chí đủ cả con trai con gái, cháu trai cháu gái; đồng thời có thể Đặt hậu cho cả bố mẹ, vợ con mình. 

Nhiều làng quy định, chỉ thờ và cúng giỗ người Đặt hậu thần khi người đó chết; song cũng nhiều làng quy định dành cho Hậu thần một số quyền lợi khi người đó còn sống. Chẳng hạn, làng Nghĩa Xuyên (xã Nhân Hào Trung, huyện Yên Mỹ (cũ), tỉnh Hưng Yên) trong bản Khoán từ (lập năm Chính Hòa 10, Kỷ Tỵ, 1689) về việc tôn ông bà Trần Thế Xuyên làm Hậu thần vì đã giúp làng 200 quan tiền, 3 mẫu 5 sào ruộng để sửa chùa, có các điều khoản quy định chế độ khi Hậu thần còn sống: tổ chức giỗ bố mẹ Hậu thần tại nhà với số lễ vật (lợn, xôi, trầu rượu, phần biếu lại nhà Hậu thần; sau khi bố mẹ Hậu thần chết thì thôi cúng giỗ); các lệ biếu với số phần biếu cụ thể vào làng tế thần, các tiết lệ trong năm. Khi Hậu thần mất, làng tổ chức tang lễ về sắm lễ, làm lễ, đưa đám, cúng giỗ ngày đoạn tang. Ngoài ra, các chế độ khác sau khi Hậu thần chết được bảo đảm như ở các làng quê khác (Đinh Khắc Thuân, Chủ biên, ‘Tục lệ làng xã cổ truyền Việt Nam, nxb. KHXH, 2006, tr. 314 – 318).  

Những người đặt Hậu thần hay được tôn làm Hậu thần được lập ban thờ trong đình, thường ở tường đốc của gian cuối. Cũng có trường hợp dựng một miếu nhỏ sau đình (như làng An Thọ, xã An Khánh, trước đây thuộc huyện Hoài Đức, nay thuộc xã An Khánh, Tp. HN). Ngày giỗ hậu, làng sửa lễ (lễ mặn, thường là thịt lợn, nhiều trường hợp mổ cả trâu, bò) và trai đinh cả làng được dự. Vào ngày hội làng, vong linh người đặt hậu (hay được tôn làm hậu thần) được mời về dự hội. Con cháu của hậu thần được biếu một phần lộc. 

Sau Cách mạng Tháng Tám 1945, tục tôn vinh, thờ một người có nghĩa cử cao đẹp làm Hậu thần không còn tồn tại; song gần đây, nhiều làng lập ban thờ và ghi danh các bà mẹ Việt Nam anh hùng, các liệt sĩ qua các thời kỳ kháng chiến ở gian bên trài, hoặc đầu hồi bên trái (theo hướng đình), như là dạng biểu hiện của tục tôn vinh Hậu thần thời xưa.

B.X.Đ