
Câu chuyện bắt đầu từ một sự việc khá tình cờ. Khi làm Phó Chủ tịch phụ trách Đối ngoại của Hội Xuất bản Việt Nam, tôi hay được cử đi dự các cuộc họp thường niên của Hiệp hội Xuất bản Đông Nam Á và Hiệp hội Xuất bản châu Á – Thái Bình Dương. Lần đó, ông Chủ tịch Hiệp hội Xuất bản Đông Nam Á có sáng kiến là đề nghị đại diện các nước sẽ mặc Quốc phục (quần áo dân tộc hay truyền thống tiêu biểu) tại phiên họp cuối của cuộc họp thường niên của Hiệp hội (để dự chiêu đãi và chụp hình kỷ niệm) và đó sẽ trở thành một tập tục tốt đẹp cần duy trì sau này. Nhận được giấy mời có ghi kèm theo đề nghị trên, tôi hết sức bối rối bởi lẽ không biết Việt Nam mình thì sẽ mặc gì? Nếu tôi là nữ thì có lẽ mọi chuyện sẽ xử lý ổn thỏa vì Áo dài nữ Việt Nam từ lâu đã trở thành một biểu trưng rõ nét, không có gì phải bàn cãi, cho trang phục dân tộc Việt Nam (của phái nữ). Còn phái nam thì sao? Tôi đành liều ra của hàng đối diện với chùa Quán Sứ mua một chiếc áo nâu sồng ngắn vạt, coi như là trang phục thường nhật của người nông dân Việt Nam. Thực ra, khi ấy trong đầu tôi cũng nghĩ, nếu mình mặc bộ Áo dài kiểu anh Hai “Quan họ” thì chắc trông sẽ “kỳ dị”, không tự tin. Trong khi đó, đại biểu các nước khác thì thấy vô cùng thoải mái, tự nhiên khi mặc quần áo dân tộc mình và các bộ quần áo đó tương đối khác lạ nếu so với nhau, đặc biệt là phái nữ. Tất nhiên, ví dụ như Singapore, thì quần áo dân tộc của họ có nét của người Hoa; trang phục dân tộc của người Indonesia, Philippines hay Malaysia có những hoa văn họa tiết giống nhau – đặc trưng của vùng Đa Đảo hay Nam Á. Nhưng đại biểu Papua New Guinea thì mặc hoàn toàn khác. Lần đó tôi may mắn xử lý được tạm thời tình huống khó khăn, nhưng trong lòng vẫn canh cánh một câu hỏi về trang phục truyền thống cho nam giới Việt. Một điều hết sức hiển nhiên là đối với nữ giới, dù thuộc bất cứ dân tộc nào, thì bộ trang phục truyền thống của họ, thậm chí là thường phục, cũng đều mang đậm nét nhất tính bản địa hay bản sắc văn hóa dân tộc. Có thể nói không ngoa rằng, trong nhiều trường họp, trang phục của nữ giới là rực rỡ nhất và bản sắc nhất.
Do quan hệ công tác, chúng tôi cũng hay được mời tham dự các lễ tân ngoại giao của đối tác nước ngoài, ví dụ như Lễ mừng Quốc khánh, lễ mừng sinh nhật Nữ hoàng… Trong giấy mời, Ban tổ chức bao giờ cũng ghi một dòng chữ nhỏ ở góc trái giấy mời quy định về kiểu trang phục (Dress code) để khách lưu ý mặc cho đúng thể thức lễ tân. Như vậy, ở tầm quốc tế, đối với sự kiện trong thể, người ta có quy định các loại trang phục như:
– Formal (official) – lễ phục chính thức
– Casual (business attire) – thường phục hay trang phục công sở; thoải mái, không gò bó
– National (Quốc phục; quần áo dân tộc)
Thậm chí, trong một số trường hợp còn quy định Long suit hay Smoking (jacket)…
Văn hóa truyền thống Việt Nam cũng có nhiều thuật ngữ chỉ loại trang phục và có quy định sử dụng trang phục (ví dụ: ở các bộ Hội điển như “Đại Nam hội điển sự lệ“ của triều Nguyễn, hay các chiếu chỉ, chỉ dụ. của vua…). Các loại trang phục khác nhau được thiết kế để sử dụng cho các đối tượng khác nhau và trong các dịp, hay trường hợp khác nhau như:
– Lễ phục
– Phẩm phục
– Triều phục
– Thường phục
– Quốc phục
– Tiện phục (quần áo vua chúa mặc hàng ngày khi không có thiết triều hoặc tế lễ…)
– Nhung phục (cho binh lính)…
Vậy vấn đề là, ta sẽ quy chiếu hệ thống chuẩn mực cũng như thuật ngữ y phục của ta vào quy định “Dress code” (tạm dịch là “Quy định trang phục” hay ngắn hơn là “Phục điển”) của phương Tây như thế nào để giải quyết các vấn đề y phục trong lễ tân, nghi lễ ngoại giao mà chắc chắn chúng ta sẽ phải đụng chạm tới trong điều kiện giao lưu quốc tế mở rộng và hội nhập sâu rộng như hiện nay? Thực tế cho thấy, dường như đã thành tập quán quốc tế là nam giói sẽ sử dụng bộ comple (gồm quần Âu, áo sơ mi, giầy tây và cà vạt) cho các trường hợp trang trọng, nhưng cũng có nhiều nước vẫn thích giữ bộ trang phục truyền thống như Ấn Độ hay các nước Ả-rập chẳng hạn.
Còn ở Việt Nam trong các hoạt động lễ tân, kể cả lễ tân ngoại giao hiện đại, đối với nữ giới thì quy định Lễ phục hay Quốc phục là Áo dài nữ thì khá là thích hợp (nhưng không tuyệt đối), ít nhất là đối với người Việt như một thành phần chủ yếu, tiêu biểu của nền văn hóa Việt Nam nói chung. Tuy nhiên đối với trang phục cho nam giới, chúng ta nên phân biệt giữa hai khái niệm này vì khái niệm “Lễ phục” có nội hàm khá rộng; nó sẽ bao gồm cả comple, trang phục để thực hành lễ nghi trong tôn giáo, tín ngưỡng, văn hóa truyền thống, trang phục nghi lễ thiết kế cho một số đối tượng đặc biệt như công an, binh lính, tướng tá trong quân đội. Còn nếu nói đến Quốc phục thì khó khăn sẽ nảy sinh trong việc xác định nguyên mẫu của nó. Trước đây, chúng tôi còn nhớ, các nghệ sỹ của ta khi đi nước ngoài biểu diễn hay giao lưu, đành phải sáng chế ra loại áo quần na ná như của đồng bào Tây Nguyên: áo kiểu gi-lê không nách, không tay, không cài cúc, màu đỏ có viền nẹp, mặc choàng ra ngoài áo sơ mi trắng hay đen, cùng với quần vải, và giải băng màu thắt ngang đầu. Khi đó, người ta đành làm vậy, cũng như chúng tôi bắt buộc phải mặc áo nâu ngắn vạt để “xử lý tình huống” mà thôi. Hiện tại, nhiều nghệ sỹ chọn mặc kiểu áo dài cách tân, khỏe khoắn, nam tính và cũng khá sặc sỡ để lên sân khấu. Tuy nhiên, nếu người nước ngoài hỏi, đó có phải là trang phục truyền thống thực sự của nam giới Viêt Nam hay không, thì chúng tôi tin chăc rằng, người mặc hoặc là nhận bừa, hoặc là lúng túng. Hay nếu một Đại sứ Việt Nam nào đó lại chọn bộ áo dài cách tân để mặc khi làm lễ trình quốc thư chẳn hạn thì ấn tượng của người nước ngoài về trang phục truyền thống Việt Nam (Quốc phục) có lẽ sẽ khác nhiều.
Do vậy, xác định một bộ Quốc phục nam giới Việt Nam là một việc làm thiết yếu để tìm ra nguyên mẫu (prototype) có khả năng tương thích với kiểu National dress. Nam giới một số nước như Ấn Độ, Pakistan, Nepal, Bhutan, Myanmar, hay các nước Ả-rập, đều có Quốc phục (National dress) rất rõ nét và trong rất nhiều trường hợp, họ mặc như Lễ phục, thậm chí như Thường phục để thích hợp với khí hậu của đất nước mình và cũng là cách đề cao bản sắc dân tộc. Còn ở Việt Nam chúng ta, quá trình tiếp xúc, giao lưu văn hóa với phương Tây đã làm xáo trộn văn hóa truyền thống Việt Nam. Có rất nhiều yếu tố tiến bộ đã được du nhập, tiếp biến vào văn hóa Việt Nam (như cắt tóc ngắn, để răng trắng, mặc sơ-mi, quần tây, đi giầy tây, thay khăn xếp hay khăn đóng bằng mũ cát-két…) và trở thành tập quán tốt đẹp, văn minh được toàn xã hội hưởng ứng. Bên cạnh đó, cũng không ít những di sản văn hóa của chúng ta đã mai một trong quá trình hiện đại hóa, do chiến tranh, biến động xã hội, hay do tác động của con người, trong đó có chiếc Áo dài nam vốn đã từng là bộ Quốc phục cho nam giới Việt và vốn có tuổi đời chí ít là hơn 100 năm rồi.
Như chúng ta đã biết, chính quan niệm thẩm mỹ mới trong phong trào Âu hóa là chất xúc tác để các họa sỹ, nhà thiết kế Việt Nam những năm 1930 kế thừa và phát triển thành công Áo dài nữ (từ chiếc áo Tứ thân; Ngũ thân) truyền thống của nữ giới Việt Nam thời phong kiến. Còn chiếc Áo dài nam có vẻ không có một số phận tốt lành như Áo dài nữ. Không biến mất hoàn toàn, chiếc Áo dài nam còn tồn tại đâu đó ở một số thời điểm lịch sử như trang phục công sở, trong sinh hoạt văn hóa; tâm linh, tôn giáo, hay trên sân khấu truyền thống; hoặc được cách tân theo các xu hướng khác nhau, có thể thành công và có thể chưa thành công (như Áo dài “anh Hai Quan họ”); áo tế ở Giỗ tổ Hùng Vương, hay Áo dài cách tân hiện đại mà giới trẻ Việt Nam, đặc biệt là các nghệ sỹ đang cổ xúy. Có lẽ định kiến Áo dài nam truyền thống gắn với chế độ phong kiến, với cường hào ác bá, với Nho học lạc hậu, bảo thủ, cổ hủ đã ngáng trở quá trình tồn tại và phát triển của nó. Hơn nữa, diễn tiến tiếp biến văn hóa phương Tây khá thành công, chí ít là đối với trang phục nam giới, đã khiến người ta trở nên thờ ơ, không quan tâm, nếu không muốn nói là e ngại, e dè khi phải chấp nhận nó trong kho tàng di sản y phục truyền thống của dân tộc (Việt) trong thời hiện đại. Rất có thể, Áo dài nữ không phải chịu cái mặc cảm hay định kiến tương tự vì có lẽ nữ giới ÍT BỊ gắn với quyền lực của chế độ phong kiến chăng?
Rõ ràng là chúng ta CẦN đặt vấn đề nghiêm túc về sự cần thiết tái nhận thức bản sắc văn hóa truyền thống liên quan tới Áo dài nam truyền thống (Việt). “Bản sắc văn hóa dân tộc” là gì nếu không phải là toàn bộ các biểu hiện về mặt vật chất và tinh thần riêng biệt của một nền văn hóa khiến nó trở thành “bản thân mình”, khác biệt với “đối tượng khác” trong mối quan hệ đối sánh. Nói cách khác, khái niệm “bản sắc” thì trừu tượng, nhưng nó có vô số các biểu hiện vật chất và tinh thần đặc trưng cụ thể, từ kiến trúc, nghệ thuật, y phục, ẩm thực, phong tục tập quán, cho đến tập tính dân tộc, lối suy nghĩ, cách hành xử v.v. Trong điều kiện toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế sâu rộng như hiện nay, người ta càng chú ý hơn tới xác định và khẳng định bản sắc văn hóa, và rộng hơn là bản sắc dân tộc, riêng biệt để không bị “xóa nhòa” trong “ngôi làng toàn cầu”, trong khi vẫn có giao lưu và tiếp thu lẫn nhau. Mối quan hệ cân bằng giữa “thống nhất” (unity) và “đa dạng” (diversity) trở thành một yêu cầu có tính thời đại vô cùng cấp thiết. Sự phong phú, đa dạng và khác biệt là tiền đề để các nền văn hóa giao lưu, học hỏi lẫn nhau, vì chẳng ai lại đi “học” cái giống mình cả. Bên cạnh đó, sự bùng nổ của cuộc Cách mạng 4.0 sẽ làm cho biên giới ảo giữa các nền văn hóa trở thành mong manh hơn. Trong một nỗ lực nhằm kiểm kê, tái nhận thức lại di sản văn hóa của dân tộc để khai thác và phát huy phục vụ đời sống hiện đại, bồi dưỡng niềm tự hào dân tộc và tinh thần yêu nước khiến chúng ta phải cố gắng đi tìm các biểu trưng văn hóa dân tộc như “Quốc hoa“, “Quốc tửu”, bên cạnh biểu trưng quốc gia đã có từ lâu như Quốc huy, Quốc thiều, Quốc hiệu – và đây là một tín hiệu đáng mừng, đáng cổ xúy – thì tại sao ta lại không xác định một bộ “Quốc phục” chính thức cho nam giới và nữ giới Việt? Trong từ điển một số ngôn ngữ phổ biến khác của nhân loại như tiếng Anh (vốn đang được mặc định như ngôn ngữ giao tiếp quốc tế) hay tiếng Pháp, bên cạnh những từ tiếng Việt đã được đưa vào từ lâu như “Áo dài (nữ)”, “nước mắm“, “nem”, “phở” v.v. thì nếu những từ như “Áo năm thân” hay “ngũ thân” (nam) cũng hiện diện thì sẽ là một niềm tự hào lớn vì Việt Nam đã có đóng góp gì đó được ghi nhận cho di sản văn hóa nhân loại. Từ góc nhìn này, chúng tôi muốn tập trung bàn đến việc tái nhận thức “Áo dài nam truyền thống của người Việt“ như là một biểu hiện vật chất cụ thể cho bản sắc trang phục truyền thống Việt Nam hay nói rộng hơn, như một di sản văn hóa của người Việt. Điều này không hề hạ thấp tính dân tộc hay bản sắc của các tộc người anh em đang chung sống trên mảnh đất Việt Nam hình chữ S, nhưng “trang phục dân tộc“ nên là chủ để cho một câu chuyện hay thảo luận khác.
Trong những năm gần đây, CLB Đình làng Việt do nhà nghiên cứu – phê bình mỹ thuật, họa sỹ Nguyễn Đức Bình (Tạp chí Văn hóa Nghệ thuật thuộc, Bộ VHTTDL) cùng một số nghệ sỹ đồng nghiệp sáng lập đã hết sức cố gắng khai thác truyền thống, tìm tòi trong di sản văn hóa của dân tộc để tôn vinh những giá trị trường tồn của nó. CLB có Trung tâm Hỗ trợ phát triển Áo dài ngũ thân truyền thống, gồm một số thành viên tích cực, yêu di sản văn hóa dân tộc, đang có một chương trình nghiên cứu – phổ biến Áo dài nam một cách toàn diện, sâu sắc, với các hướng tiếp cận khác nhau. Chúng tôi nghĩ rằng, đây là một hướng đi đúng đắn nhằm phục dựng lại Áo dài nam truyền thống một cách khoa học, có kế thừa, có thích ứng nhằm tác động tới truyền thông và công chúng nói chung để nhận thức lại vị trí của di sản này trong hành trang vốn liếng văn hóa mà cha ông chúng ta đã trao truyền lại.
1. Chiếc Áo dài nam năm thân (ngũ thân) mà CLB Đình làng Việt hướng tới như một nguyên mẫu cho cái gọi là “Áo dài nam truyền thống” thực ra là một y phục đã được kế thừa và cách tân dưới triều Nguyễn (muộn). Chúng tôi tạm gọi “nguyên mẫu” và lối gọi đó chỉ mang tính chất tương đối, nếu tính từ thời điểm manh nha chiếc Áo dài nam – qua mô tả và qua hình bóng vang vọng của nó ở thế hệ Áo dài sau này – dưới thời Chúa Nguyễn Phúc Khoát khi ông ra sắc lệnh (1744) bắt dân chúng Đàng Trong mặc loại y phục có đặc điểm khác với y phục ở Đàng Ngoài. Rồi từ đó, triều Nguyễn tiếp nối và phát triển thêm, như kiểu Vua Minh Mạng “cấm quần không đáy”, hay kiểu chiếc Áo dài Ngũ thân mà các viên chức chính quyền , hoàng thân quốc thích, hay nhà giầu mặc. Các bậc đế vương này không phải là “nhà tạo mốt“ để tạo ra sản phẩm “Áo dài“ như ta thấy, nhưng họ thực sự đã “Điển chế hóa” – hay nói theo ngôn ngữ hiện đại “luật hóa“quy cách ăn mặc để lấy làm tiền đề cho sự phổ biến của các kiểu loại y phục, trong đó có lễ phục và thường phục. Chí ít, Chúa Võ Vương mới ra lệnh cải cách y phục năm 1744 thì Hội Truyền giáo Hải ngoại đã ghi nhận trong bản thảo “Dictionarium Anamitico – Latinum“ làm năm 1773 (sau được J.L Taberd hoàn thiện) mục từ “áo chân“ (bên cạnh từ “quần chân”). Phải chăng, sự tồn tại của mục từ “áo chân“ và “quần chân“ trong thời gian tương đối đồng đại với thời gian trị vì của chúa Võ vương cho thấy chiếc Áo dài sơ khai đã khá phổ biến khi đó, nên được các giám mục nước ngoài ghi nhận.
Lẽ dĩ nhiên, bên cạnh chiếc Áo dài ngũ thân kiểu Huế nói trên, chúng ta vẫn còn sở hữu một loại Áo dài của tầng lớp bình dân trước đây khá phổ biến mà đôi khi được gọi là Áo lương, Áo the. Loại Áo dài đó được nam giới xưa kia mặc (và ngày nay vẫn còn mà ta hay thấy ở Đình làng, lễ hội, nghi lễ truyền thống – tâm linh), nhưng xét về mặt thẩm mĩ, cá nhân chúng tôi thấy Áo dài ngũ thân thuộc phong cách triều Nguyễn ở Huế có độ tạo hình ấn tượng hơn, đẹp hơn, sang trọng hơn. Nó cũng “Việt Nam” hơn nếu đặt bên cạnh Áo dài nam giới Trung Hoa hay các loại Áo dài của vùng Á Đông, châu Á nói chung. Ta có thể lấy Áo dài nam kiểu Huế nói trên làm “nguyên mẫu” vì nó đã định hình ở giai đoạn Nguyễn muộn, thậm chí còn vắt sang đến giữa thế kỷ XX mà chứng tích rõ nét nhất được ghi lại trong vô số tấm hình chụp thời đó. Áo dài ngũ thân này có vạt ngắn hơn là Áo dài bình dân, hài hòa, có thể che bớt được nhược điểm của người mặc như quá gầy hay quá béo; nó có ống tay bó gọn hơn và cổ áo cứng cáp hơn, và có thể có hoa văn trang trí trên vải, màu sắc cũng tươi sáng hơn. Có thể nói, chiếc Áo dài này tập trung được khá nhiều dấu hiệu “bản sắc Việt” nếu đi cùng các phụ kiện phục trang khác như khăn quấn, quần, giầy dép. Ở đây chúng tôi có hàm ý rằng, nếu các loại Áo dài nam khác có thể còn làm người ta liên tưởng đến trang phục của dân tộc nào đó trong vùng Đông Á thì chiếc Áo dài ngũ thân kiểu Nguyễn muộn này dường như đã vượt được lên chính mình để xác quyết vị trí riêng biệt của nó. Phong trào Âu hóa hay Duy tân những năm 1920 – 1930 đã thành công khi xóa bỏ một số tập quán đã lỗi thời, trong đó có việc nam giới mặc Áo dài như thường phục, nhưng chúng không triệt tiêu được triệt để bộ Áo dài với tư cách là Quốc phục và vẫn được một số người mặc khi xuất hiện trước công chúng, như ta thấy các bức hình chụp những năm đầu Cách mạng sau 1945, thậm chí tới năm 1954 và muộn hơn. Sau này, rất có thể do điều kiện chiến tranh và phong trào nếp sống văn minh, Áo dài nam bị xếp vào một góc, song nó vẫn tồn tại dai dẳng trong đời sống văn hóa truyền thống – tâm linh hay nghệ thuật diễn xướng truyền thống. Các thầy cúng, pháp sư, thầy chùa, có khi cả linh mục đều sử dụng Áo dài (kiểu bình dân) khi hành lễ; các nghệ sỹ cũng dùng Áo dài để tái hiện lại nhân vật trong lịch sử trên sân khấu.
2. Như vậy, khi ta đã đi đến thống nhất về một loại hình Áo dài nam tạm gọi là nguyên mẫu (prototype) – hiểu một cách tương đối về mặt thời gian xuất hiện – có thể lấy làm Quốc phục cho nam giới Việt Nam, thì bước tiếp theo là nghiên cứu để quy chuẩn nó bằng thuật ngữ (ví dụ: “Áo dài nam”; “Áo ngũ thân nam”; “Áo năm thân nam” hay ngắn gọn “Áo ngũ thân”, “Áo năm thân”v.v. để phân biệt nó với Áo dài nữ), bằng các quy cách về mặt hình thức, bằng các thông số kỹ thuật (tỷ lệ giữa các thành tố của nó như cổ, tay, tà áo, vạt áo.v.v.), bằng hình mẫu, số đo, và khảo tả cụ thể. Việc quy chuẩn tạo hình của chiếc áo rất quan trọng vì chính nó sẽ đóng góp lưu giữ bản sắc di sản văn hóa này và phục vụ việc nhân bản rộng rãi trong xã hội. Nói cách khác, thuật ngữ “Quốc phục” là dành cho trang phục truyền thống của cả nam giới và nữ giới, nhưng nếu từ “Áo dài” hiện giờ đã trở nên quá thông dụng để chỉ cho Quốc phục Nữ thì với nam, ta có thể dùng “Áo ngũ thân” (hay Áo năm thân) với nội hàm mới là Áo dài nam, để phân biệt với Áo dài (nữ) cùng với quy chuẩn của nó. Chúng ta cần thảo luận tiếp về cách gọi để tiến tới thống nhất một thuật ngữ dùng cho Áo dài nam. Việc này cũng rất quan trọng cho các bước tiếp theo khi điển chế hóa loại hình Áo dài, hay chuẩn bị hồ sơ trình UNESCO ghi danh là di sản văn hóa của nhân loại.
3. Chắc sẽ có ý kiến băn khoăn, nếu sử dụng Áo (dài) ngũ thân như vậy, liệu có khêu gợi lại ký ức về một giai đoạn phong kiến cổ hủ lạc hậu không? Theo chúng tôi, di sản văn hóa là do nhân dân sáng tạo ra. Ta hình dung, nếu không có bàn tay tài hoa và phẩm chất nghệ sỹ của hàng vạn nghệ nhân bình thường trong chế độ cũ thì sao ta có được những công trình di sản văn hóa đáng tự hào đến như vậy. Bản chất của một sản phẩm văn hóa không phụ thuộc vào đối tượng khai thác, sử dụng nó, mặc dù nó có thể khiến người ta thiết lập mối liên tưởng giữa hai đối tượng đó, Nếu ngày nay, ta có nhìn thấy chiếc áo hoàng bào của vua nhà Nguyễn thì chúng tôi tin chắc rằng, người ta chỉ thán phục về vẻ đẹp và độ tinh xảo của nó, chứ ít ai sẽ liên hệ nó với thân thế hay sự nghiệp của vị vua đã từng sử dụng nó, trừ khi cố ý làm vậy. Ngay Bác Hồ kính yêu của chúng ta đã có con mắt nhìn rất biện chứng về di sản văn hóa. Sau năm 1945, Ngân khố của Chính quyền cách mạng non trẻ của chúng ta rất khó khăn, gần như là rỗng không. Có ý kiến đề nghị bán đấu giá số hiện vật, tài sản quý báu do triều Nguyễn giao nộp để có tiền cho Chính phủ hoạt động nhưng Hồ Chủ Tịch kiên quyết bảo vệ các hiện vật đó. Bác cho đóng gói chúng và gửi ra Hà Nội để lưu giữ cho bảo tàng. Nhờ quyết định sáng suốt, nhìn xa trông rộng như vậy nên ngày nay chúng ta mới có cơ hội chiêm ngưỡng thành quả sáng tạo của các nghệ nhân dân gian Việt.
Trong một hoàn cảnh khác, khi GS. TS Trần Văn Khê chuẩn bị nói chuyện về âm nhạc truyền thống Việt Nam tại Pháp những năm 1980 trong khuôn khổ tuần lễ Văn hóa Việt Nam, có cán bộ có trách nhiệm của Sứ quán Việt Nam tại Pháp phản đối việc GS sẽ mặc “Áo dài – khăn đóng” để làm diễn giả vì cho rằng nó là sản phẩm của chế độ phong kiến đã bị cách mạng đánh đổ. Nhưng GS Trần Văn Khê đã lý luận rằng, giữa việc mặc cái Áo dài truyền thống với bản chất của chế độ phong kiến như một hình thái xã hội trong lịch sử loài người không có gì liên quan; Áo dài không phải là THUỘC TÍNH của chế độ đó. Ngược lại, nếu GS mặc Áo dài, ngồi đánh đàn tranh và nói chuyện về Văn hóa Việt Nam thì người nghe sẽ có ấn tượng sinh động và sâu sắc hơn nhiều vì diễn giả cho người ta thấy trực quan sinh động về một trong các biểu hiện của bản sắc văn hóa Việt Nam qua trang phục. Và ý kiến của GS rốt cuộc đã thuyết phục được lãnh đạo Sứ quán. Gần đây, một số Đại sứ của ta ở nước ngoài đã mặc Áo dài Nam trong lễ trình quốc thư hay tiếp khách nhân dịp Quốc khánh. Đây là một hành động rất đáng khen ngợi. Cách đây không lâu, Đại sứ Việt Nam tại Anh Trần Ngọc An chuẩn bị tiến hành lễ trình quốc thư lên Nữ hoàng Anh. Theo truyền thống, Bộ Ngoại giao Anh dùng xe ngựa và lính kỵ mã để đón rước Đại sứ Việt Nam. Đại sứ Việt mặc Áo dài cùng phu nhân đi xe ngựa, có lính kỵ mã trong nhung phục truyền thống hộ tống, tiến vào cung điện để ra mắt Nữ hoàng – một khung cảnh cực kỳ ngoạn mục! Chúng tôi tin chắc rằng, Nữ hoàng cũng như quan chức Bộ Ngoại giao Anh sẽ có ấn tượng vô cùng sống động về người đại điện cho đất nước, con người và văn hóa Việt Nam ở nước ngoài như Đại sứ Trần Ngọc An. Hay Đại sứ Phạm Sanh Châu cũng là một nhà ngoại giao, một nhà văn hóa đầy nhiệt huyết, luôn luôn ý thức được việc cần thiết phải quảng bá văn hóa Viêt Nam ra nước ngoài, trong đó có chiếc Áo dài nam truyền thống vốn được ông sử dụng trong nhiều trường hợp. Không những thế, Đại sứ còn khuyến khích nam cán bộ nhân viên ngoại giao ở Sứ quán cũng may và mặc Áo dài như ông khi cần thiết.
4. Chiếc Áo năm thân như đã nói trên hoàn toàn phù hợp với phái nam thuộc mọi độ tuổi, kể cả các cháu nhỏ và thanh niên, và nó hoàn toàn có thể được sử dụng như Lễ phục trong một số trường hợp, ví dụ: Giỗ tổ Hùng Vương, dâng hương, lễ hội truyền thống, các ngày lễ Tết, thăm viếng di tích lịch sử – văn hóa truyền thống, cưới hỏi, tang ma, thậm chí là lễ trình Quốc thư, Tuần văn hóa Việt Nam ở nước ngoài, Hội thảo, hội nghị trong nước và quốc tế nếu có chủ đề liên quan đến văn hóa truyền thống Việt Nam. Như ta đã thấy, tại Hội nghị cấp cao APEC, các nguyên thủ quốc gia cũng sẵn sàng đóng bộ Quốc phục của nước chủ nhà để chụp hình lưu niệm. Thiết nghĩ, trên bình diện xây dựng quyền lực mềm (soft power) cho quốc gia, Áo dài nữ và Áo dài nam của chúng ta cần phải chiếm một vị trí xứng đáng trong các phương tiện hay chương trình quảng bá về văn hóa, đất nước, con người Việt Nam, nhất là trong ngành du lịch. Thực tế cho thấy, các nước trong khu vực làm khá tốt việc quảng bá trang phục của họ nằm trong tổng thể chiến lược xây dựng quyền lực mềm qua văn hóa. Nhật Bản thậm chí có cả lễ hội Ki-mô-nô hay Tuần văn hóa Ki-mô-nô. Khi ở Seoul, Hàn Quốc, chúng tôi từng thấy các em học sinh đi đến Bắc Thôn (Bukchon), một làng di sản văn hóa nằm ở phía Bắc Seoul, để du lịch và chụp hình trong trang phục Hàn quốc truyền thống, cả nam và nữ. Chúng tôi có hỏi các em về lý do mặc trang phục truyền thống, các em hồn nhiên trả lời là “Bọn em chụp hình để kỷ niệm tốt nghiệp phổ thông trung học vì đó là di sản của Hàn Quốc.” Theo chúng tôi, một trong những đích nhắm cho Áo dài nữ và Áo dài nam cũng nên là sự phấn đấu để được UNESCO ghi vào danh sách Di sản văn hóa thế giới; khi đó tầm quan trọng của chúng sẽ được nâng lên rất nhiều.
5. Chúng tôi nghĩ, bản sắc của Áo dài nam cũng phải làm sao thể hiện được tính chất giới tính nam, kể từ những chi tiết nhỏ nhặt như cách cài cúc; loại cúc áo, chất liệu vải, màu sắc, hoa văn trang trí trên áo cho đến các phụ kiện đi kèm. Như đã nói ở trên, dưới triều Nguyễn đã có một sự cách tân Áo dài khá mạnh mẽ, đặc biệt là liên quan đến tính chất giới. Các cụ đã tiếp thu “giầy Tây” (giầy da) để đi kèm Áo dài ngũ thân và sáng tạo ra một loại khăn đội đầu kiểu Hoàng tộc, khá đẹp về mặt tạo hình. Vua Khải Định còn đi xa hơn khi ông tự chế ra lễ phục cho mình bao gồm nón mũ, áo quần, phụ kiện, trông hiện đại và đầy phong cách, mặc dù bị triều đình và công chúng dị nghị, không tán đồng. Một bộ Quốc phục nam gồm: Áo dài ngũ thân, quần trắng ống thẳng (quần ống sớ), khăn đội đầu, giầy Tây – hoàn chỉnh thì sẽ tạo ra ấn tượng một “bộ comple“ (vốn nghĩa là “hoàn chỉnh”, “đồng bộ”) vô cùng sâu đậm, dễ dàng phân biệt đâu là “mình” (Việt Nam) và đâu là “thiên hạ”. Điều này khá rõ nét nếu ta đặt bên cạnh bộ Quốc phục nam của Ấn Độ hay Ả-Rập chẳng hạn.
6. Áo dài ngũ thân nam, theo chúng tôi, vẫn nên là đối tượng để tiếp tục nghiên cứu, nâng cao. Các thử nghiệm cách tân trong thời gian qua là đáng khuyến khích. Đây là một quá trình tự nhiên trong sự phát triển của xã hội, trong đó có thẩm mỹ và thị hiếu. Cũng như Áo dài nữ, các nhà thiết kế không ngừng áp dụng chất liệu mới, sáng tạo ra các kiểu Áo dài mới cùng hoa văn trang trí mới nhưng rốt cuộc, khi nào cần dùng một hình ảnh Áo dài nữ như là Quốc phục (cho phái nữ) để đại diện cho văn hóa trang phục nữ Việt Nam, thì chắc chắn người ta sẽ chọn chiếc Áo dài “nguyên mẫu” vốn đã định hình tử những năm 1930 và trở nên phổ biến trong xã hội Việt Nam hiện đại, thay vì những kiểu Áo dài trên sàn Catwalk vốn dùng để làm mốt thời trang. Có một số thí sinh cuộc thi Hoa hậu hay Nam vương quốc tế đã mặc các bộ đồ “phá cách” nhưng lại gán cho cái mác là “trang phục truyền thống Việt Nam”. Tuy nhiên, dư luận nói chung là không tán thành việc đánh đồng bộ quần áo mới sáng chế đó với trang phục truyền thống dân tộc Việt. Đối với Quốc phục, nói gì thì nói, bất kỳ sự cách tân, cải tiến, nâng cao nào cũng phải bảo đảm các nguyên lý sau đây:
a. Giữ được tối đa đặc điểm tổng thể của chính nó với vai trò là ‘nguyên mẫu’ hay những đặc điểm đã được xác quyết qua thời gian – như là một biểu hiện của bản sắc văn hóa Việt Nam. Nếu cách tân mà làm cho chiếc áo mất bản sắc thì khi đó, nó sẽ trở thành một kiểu áo người ta có thể dùng theo sở thích, nhưng tuyệt nhiên không còn là Quốc phục nữa. Lẽ dĩ nhiên, ta có thể sang tạo ra kiểu Quốc phục mới hoàn toàn theo ý thích, nhưng có nên làm như vậy hay không, trong khi đã có sẵn di sản trong tay? Hơn nữa, bản sắc được hình thành nên đâu phải một sớm một chiều; nó là cả một quá trình tinh lọc, chắt lọc, đào thải, tiếp biến rất phức tạp và lâu dài, bằng vô thức và có ý thức, trong các điều kiện lịch sử, xã hội , văn hóa của từng thời đại. Để có kiểu Áo dài ngũ thân như nói ở trên, chúng ta phải mất hàng trăm năm để nó trở thành là “của”, là “thuộc về” văn hóa Việt Nam. Những kiểu áo cách tân mà chỉ còn lưu giữ hình bóng mờ nhạt của chiếc Áo dài cũ (ví dụ: chỉ giữ lại 2 vạt dài và cách cài khuy chéo không thôi) thì e rằng nó sẽ là một sáng tạo mới mẻ của ngành công nghiệp Thời trang hơn là sự kế thừa và tiếp nối di sản văn hóa truyền thống. Cần nhắc lại, Áo dài nữ đã được cách tân rất thành công khi ông Cát Tường nhận định trên tờ Phong Hóa về Áo dài nữ là “cần sửa đổi dần dần; trước hết phải hợp với khí hậu xứ ta với thời tiết các mùa, với công việc, với khuôn khổ mực thước của thân hình mỗi bạn. Sau nữa là phải gọn gàng giản dị, và có vẻ mạnh mẽ và có vẻ mỹ thuật và lịch sự”1.
b. Sự cách tân phải tỏ ra tiện lợi hơn, có công năng hữu ích hơn, phù hợp hơn với thị hiếu, thẩm mỹ, lối sinh hoạt của người đương thời. Ví dụ: Áo dài nam truyền thống (bình dân) vốn không sử dụng nhiều loại màu sắc hay chất liệu vải. Hơn nữa, nó có vạt khá dài, lụng thụng. Ngày nay, tiến bộ trong ngành dệt may cho phép có nhiều chất liệu vải và đa dạng màu sắc hơn. Áo dài nam có thể được nâng cao theo hướng phong phú về chất liệu, màu sắc và gọn gàng hơn để tiện sử dụng.
c. Sự cách tân Áo dài nam phải bảo tồn được đặc điểm giới, để sao cho khi nam giới mặc vào, sẽ không tạo ra ấn tượng là mềm mại, “yểu điệu thục nữ”, nhất là hoa văn trang trí trên đó phải có sự lựa chọn cẩn thận. Một lần nữa, chúng tôi xin nhấn mạnh quan điểm cá nhân là không bài trừ hay phê phán các thử nghiệm cách tân trong ngành công nghiệp “tạo mốt” thời trang – đó là quyền tự do và sở thích cá nhân, nhưng ở đây đang nói về Áo dài Nam với tư cách là “Quốc phục” cho nam giới Việt Nam. Bản thân thuật ngữ “Quốc phục” mà dùng phổ biến ở Việt Nam giai đoạn cuối thế kỷ XIX – đầu XX đã có hàm ý nhấn mạnh vào bản sắc của một loại Áo dài tiêu biểu cho người Việt Nam. Còn các loại Áo dài cách tân nên gọi là “Áo dài thời trang“.
d. Mọi cách tân phải bảo đảm tính mỹ thuật, nghĩa là phải trông đẹp hơn, bắt mắt hơn cái cũ. Sử gia Trần Trọng Kim nhận định về trang phục người Việt trước khi Pháp sang như sau: “Cách ăn mặc thì chỉ có đồ vải nâu, người nghèo khổ chỉ có manh áo cánh và thường thì đóng cái khố, có đi đâu mới mặc cái quần vải dài đến đầu gối. Người sung túc mới có vài cái áo nâu đen và vài cái quần hoặc nhuộm nâu hoăc để trắng, chứ không được mặc đồ gấm đồ vóc và đi giày”2. Rõ ràng là ngày nay chúng ta có điều kiện hơn ngày xưa rất nhiều dể có thể nâng cao chiếc Áo dài, tăng tính thẩm mỹ cho nó. Chất liệu vải phong phú, màu sắc phong phú cùng thiết bị may đo hiện đại chắc chắn sẽ tạo ra những sản phẩm có chất lượng hơn, có tính thẩm mỹ hơn. Nhưng một điều, theo chúng tôi cũng không kém phần quan trọng là, hoa văn trang trí trên Áo dài. Nếu như Áo dài nữ có thể tạo điều kiện cho nhà thiết kế thả sức tung hoành trong sáng tạo ra các thể loại hoa văn, họa tiết, hình ảnh trang trí thì với Áo dài nam, dường như giải tần cho sự sáng tạo đó không rộng do tính chất giới quy định, trừ khi đó là loại Áo dài cách tân. Nếu Áo dài nam truyền thống cũng sử dụng những hình ảnh hay hoa văn trang trí như cho Áo dài nữ (ví dụ như hoa hồng, hoa sen, hoa dây…) thì chúng tôi e rằng, điều đó càng làm tăng định kiến của xã hội nói chung và giới trẻ nói riêng về tính chất ‘âm’ của Áo dài. Ở đây chúng tôi chỉ muốn nói đến một bộ Quốc phục chứ không đụng chạm đến loại Áo dài chuyên biệt như trong Tín ngưỡng thờ Mẫu hay trên sân khấu truyền thống hay kiểu được gọi là “Áo dài cách tân”.
Nói một cách khác, giải quyết bài toán cân bằng hay hài hòa hóa giữa Bản sắc và Công năng – Thẩm mỹ của chiếc Áo dài Nam không hề là một việc dễ dàng. Nếu thiên về Bản sắc, nghĩa là copy 100% cái Áo dài cũ như “áo lương“ hay “áo the” thì có thể dễ bị quy là nệ cổ, bảo thủ, lạc hậu và không tiện sử dụng cho người hiện đại, không hấp dẫn, bắt mắt; nhưng nếu cán cân thiên về Công năng – Thẩm mỹ thì rất dễ tạo ra sản phẩm xa rời Bản sắc, xa lạ với di sản và chỉ có giá trị như một loại thời trang mốt mới lạ (ví dụ Áo dài nữ vạt ngắn như tạp dề hay Áo dài nam bó người, vai ngang, đi với quần bò, giầy thể thao chẳng hạn). Cũng sẽ có người cho rằng, sau khi đã được chấp nhận và phổ biến trong một thời gian dài, loại Áo dài cách tân thời hiện đại sẽ trở thành một truyền thống trong tương lai. Điều này hoàn toàn có thể xảy ra, vì vậy chúng ta mới phải đặt vấn đề về tuyên truyền, quảng cáo, phổ biến thậm chí là “Điển chế hóa” loại Áo dài truyền thống mà ta đang thừa kế và phát huy từ tiền nhân. Tái nhận thức là nhằm đừng để đánh mất một di sản, đừng để nó bị chôn vùi trong quên lãng của quá khứ, cũng như để nó hóa thạch ở bảo tàng. Ngược lại, chúng ta phải khai thác nó, làm cho nó rực rỡ hơn phục vụ đời sống đương đại. Làm như vậy là để thể hiện sự kính trọng, trân quý với di sản của tổ tiên và bảo vệ bản sắc văn hóa dân tộc. Sự tồn tại của Áo dài truyền thống không hề tước mất cơ hội của đổi mới, sáng tạo của những loại áo cách tân, kể cả cách tân thái quá, nhưng nó cần hiện diện thường trực để công chúng găm vào ý thức của mình sự “có mặt“ của một di sản cổ đã từng có chiều hướng bị lãng quên. Di sản có giá trị phải được sống, được tồn tại và phát huy – đó mới là chính sách bảo tồn có hiệu quả thực tế nhất thay vì chỉ nghiên cứu suông. Bên cạnh đó, qua thời gian sàng lọc, những sáng tạo mới mẻ của ngày hôm nay, nếu có giá trị ĐÍCH THỰC được nền văn hóa CHẤP NHẬN thì sẽ có khả năng trở thành di sản trong tương lai. Ngược lại, những cách tân thời thượng theo mốt hay kiểu “xử lý tình huống” thì cũng sẽ có một đời sống hay một vòng đời tương ứng của chúng, nếu không muốn nói là bị thời gian đào thải (như loại áo giống kiểu áo người Tây Nguyên mà chúng tôi đã nói ở phần trước).
Kết luận: Đây là một vài suy nghĩ ban đầu của cá nhân chúng tôi trên cơ sở những nghiên cứu của người đi trước, các học giả, bạn đồng nghiệp, thành viên CLB Đình làng Việt. Những suy nghĩ này được rút ra từ một dự án nghiên cứu rộng lớn hơn của chúng tôi. Một trong những điểm nhấn của nó là cần nhận thức lại (tái nhận thức) bản sắc của một bộ Quốc phục cho nam giới (và cả nữ giới) Việt Nam và xây dựng quy chuẩn hay điển chế hóa nó. Quốc phục đối với nữ là Áo dài?, đối với nam là Áo ngữ thân? (hay Áo năm thân? Áo dài nam?). Cũng như nhiều thành viên khác của CLB Đình làng Việt, cá nhân chúng tôi nghiêng về lấy kiểu Áo ngũ thân kiểu Huế thời Nguyễn (muộn) làm nguyên mẫu, tích hợp thêm một số đặc điểm của trang phục Áo dài nam bình dân, nếu cần thiết. Tuy nhiên, phải có thời gian để xã hội hiện đại Việt Nam chuẩn bị tâm thế thích hợp nhằm tiếp nhận lại Quốc phục nam đưa vào sử dụng thực tế – đặc biệt là cho trường hợp cụ thể như lễ tết, giỗ chạp, cưới xin, hoạt động văn hóa truyền thống hay nghi lễ Nhà nước hoặc lễ tân ngoại giao. Muốn vậy, cần quảng bá, tuyên truyền sâu rộng cho bộ Quốc phục đó, nhằm thay đổi nhận thức của công chúng và các cấp có thẩm quyền về tầm quan trọng của việc phát huy các giá trị truyền thống để xây dựng một nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc. Chúng tôi rất mong muốn các học giả và đông nghiệp hay công chúng nói chung tiếp tục thảo luận chủ đề này để chúng tôi có thể học hỏi, chỉnh sửa nghiên cứu của mình.
T.Đ.L
Chú thích:
1. Trần Quang Đức (2013), Ngàn năm áo mũ; Nhã Nam và NXB Thế Giới xuất bản, tr’ 350.
2. Trần Trọng Kim (1999), Việt Sử lược; NXB Văn Hóa – Thông Tin, tr. 514






TS Trần Đoàn Lâm
Cố vấn CLB Đình làng Việt;
Chủ tịch Hội đồng Biên tập chuyên khảo Nghiên cứu Việt Nam, NXB Thế Giới.

