TRANG PHỤC TRUYỀN THỐNG HUẾ VÀ SỰ KẾ THỪA

Đặt vấn đề

Đối với mỗi quốc gia dân tộc, trang phục truyền thống có vai trò rất quan trọng, bởi nó không chỉ là tiêu chí hay phương tiện nhận diện mà còn phản ánh truyền thống lịch sử, bản sắc văn hóa, trình độ văn minh cùng nhiều yếu tố khác.

Trong chế độ quân chủ phong kiến, trang phục của các triều đại càng có ý nghĩa quan trọng, nhất là trang phục cung đình. Bởi vậy, hầu như các triều đại sau khi được thành lập đều quan tâm nghiên cứu để định chế triều phục, lễ nghi, âm nhạc… Trang phục, nghi lễ và âm nhạc còn được xem là tiêu chí để đánh giá trình độ văn minh của triều đại. Tương truyền, khi Hồ Qúy Ly bị nhà Minh bắt và giải qua Kim Lăng, giặc hỏi ông về nghi lễ, trang phục An Nam thế nào, Hồ Qúy Ly đã tự hào đáp: “Y quan Đường chế độ/ Lễ nhạc Hán quân thần” (Áo mũ như nhà Đường, Lễ nhạc tựa vua quan nhà Hán, tức hai triều đại được xem là văn minh nhất của chế độ quân chủ phong kiến Trung Hoa)1.

Vùng đất Thừa Thiên – Huế kể từ khi được tích hợp vào lãnh thổ Đại Việt đã có lịch sử hơn 700 năm; từ một vùng đất biên viễn đã trở thành một trung tâm mới của người Việt ở phía Nam. Thừa Thiên – Huế từng đã đóng vai trò là thủ phủ của Đàng Trong thời các chúa Nguyễn (1626 – 1774), kinh đô của Đại Việt/Việt Nam/Đại Nam dưới thời triều đại Tây Sơn (1788 – 1801) và triều Nguyễn (1802 -1945). Chính vì vậy, ở Thừa Thiên Huế, trang phục truyền thống, ngoài các loại hình trang phục dân gian của người Kinh/người Việt, trang phục của một số dân tộc/sắc tộc thiểu số, trang phục của một số tôn giáo lớn, thì nổi bật còn có loại hình trang phục cung đình; đó cũng là một phần trong kho tàng di sản văn hóa đồ sộ của cố đô Huế. 

Cho đến nay, việc nghiên cứu về trang phục truyền thống ở Thừa Thiên – Huế vẫn chưa mang tính toàn diện và đầy đủ. Những khảo cứu về chủ đề này còn mang tính riêng lẻ, rải rác, hoặc mới tập trung vào trang phục Áo dài của người Việt hay một số loại hình trang phục cung đình thời Nguyễn. Những bài viết về trang phục của các dân tộc/sắc tộc thiểu số cũng mới mang tính giới thiệu cơ bản. Những tài liệu hay nghiên cứu về trang phục của các giáo phái tôn giáo ở Thừa Thiên – Huế lại càng hiếm hoi.

Là người chủ trì Đề án “Huế – Kinh đô Áo dài Việt Nam Việt Nam” và từng tham gia viết chuyên đề “Trang phục truyền thống ở Thừa Thiên – Huế”, trong bài viết này, tôi xin nêu một số vấn đề về trang phục truyền thống Huế cùng đề xuất nên phát huy như thế nào để phù hợp và đạt hiệu quả cao trong bối cảnh hiện nay.

I. TRANG PHỤC DÂN GIAN Ở THỪA THIÊN HUẾ

I.1. Trang phục cư dân vùng Huế từ khi trở về Đại Việt đến đầu thế kỷ XVII

Năm 1306, vua Trần Anh Tông theo di nguyện của vua cha đã đem gả công chúa Huyền Trân cho Quốc vương Champa. Để đổi lại, Champa đã cắt đất hai châu phía Bắc vương quốc là châu Ô, Rí/Lý trao cho người Việt, coi như món quà sính lễ. Từ năm 1307, sau khi 2 châu Ô, Rí/Lý được đổi thành 2 châu Thuận, Hóa, những lớp lưu dân Việt dưới các thời Trần, Hồ, thời thuộc Minh, Hậu Lê đã lần lượt kéo vào vùng đất này ngày một đông. Họ cùng cư dân bản địa chung tay xây dựng vùng đất mới. Về trang phục của cư dân vùng đất Huế nói riêng, Thuận Hóa nói chung cho đến cuối thế kỷ XVI chủ yếu vẫn mang sắc thái trang phục của cư dân vùng đất Thanh Nghệ hoặc vùng đồng bằng Bắc Bộ, cũng có một bộ phận cư dân bản địa vẫn giữ lối ăn mặc vốn có, đó là bộ phận dân cư người gốc Chăm, người dân tộc thiểu số sống ở miền núi rừng phía tây.

Giữa thế kỷ XVI, Dương Văn An, khi nhuận sắc Ô Châu cận lục, đã viết trong phần tổng luận phong tục là dân Thuận Hóa “về người thì nam vẫn cương cường, nữ quen mềm mại. Tiếng nói giống tiếng châu Hoan, y phục so với Trung Hoa chẳng khác2 và cho biết ở 2 phủ Tân Bình, Triệu Phong có những làng vẫn giữ lối ăn mặc theo kiểu Chăm.

Có thể nói cho đến trước thế kỷ XVII, nghĩa là khi chưa có sự chia tách giữa hai miền, trang phục của cư dân vùng đất Thừa Thiên Huế về cơ bản vẫn chưa có sự khác biệt nhiều so với trang phục của cư dân Thanh Nghệ và vẫn là kiểu trang phục của thời nhà Lê. Chỉ từ đầu thế kỷ XVII trở về sau, một loại hình trang phục khác đã xuất hiện và nhanh chóng chiếm vị trí thống lĩnh không chỉ ở Thuận Hóa mà còn ở cả Đàng Trong, rồi từ dân gian lan tỏa cả vào chốn cung đình. Đó là Áo dài ngũ thân – Áo dài Huế.

I.2. Trang phục của cư dânThừa Thiên – Huế từ đầu thế kỷ XVII đến năm 1945: Sự ra đời và phổ biến của Áo dài ngũ thân

Năm 1600, sau khi đào thoát từ miền Bắc trở về, Nguyễn Hoàng đã quyết tâm xây dựng cơ đồ riêng của dòng họ, dù về danh nghĩa vẫn là trọng thần của triều Lê nhưng ông đã quyết tâm đoạn tuyệt với Đàng Ngoài. Kể từ thời điểm này, họ Nguyễn đã chủ trương xây dựng một chế độ riêng, một triều đình riêng.

Cũng từ việc tách ra khỏi Đàng Ngoài, cư dân Đàng Trong trong đó có vùng đất Thừa Thiên – Huế ngày nay đã sáng tạo nên một loại trang phục mới, phù hợp với điều kiện khí hậu, tầm vóc, tính cách của người Đàng Trong vốn phóng khoáng, năng động nhưng vẫn coi trọng lễ nghĩa và văn hóa truyền thống, đó là trang phục Áo dài ngũ thân.

Theo nhà nghiên cứu Trịnh Bách, Áo ngũ thân chịu ảnh hưởng phần nào kiểu Áo dài truyền thống của cư dân thuộc vùng văn hóa Ấn Độ mà biểu hiện cụ thể là Áo dài của người Chăm nhưng về cơ bản nó vẫn là thành quả sáng tạo của người Việt ở Đàng Trong. Khoảng đầu thế kỷ XVII, loại trang phục này đã dần trở nên phổ biến trong dân gian, ở cả đàn ông và đàn bà3

Cũng trong giai đoạn này, Đào Duy Từ đã khuyên chúa Nguyễn Phúc Nguyên (vị chúa Nguyễn đời thứ hai, cai trị ở Đàng Trong từ năm 1613 – 1635) bỏ loại áo tứ thân lộ yếm của miền Bắc để dùng Áo ngũ thân của Đàng Trong, bỏ váy để mặc quần, bỏ loại nón đỉnh bằng của miền Bắc để dùng loại nón chóp nhọn nhằm phân biệt rõ văn hóa, phong tục giữa Đàng Trong và Đàng Ngoài. Dù chúa Nguyễn Phúc Nguyên chưa nghe theo lời khuyên của quân sư nhưng cũng chứng tỏ mức độ phổ biến của Áo dài ngũ thân ở Đàng Trong4.

Năm 1744, Chúa Nguyễn Phúc Khoát sau khi xây dựng Đô thành Phú Xuân, xưng vương hiệu, bên cạnh cải cách triều phục, cũng đã tiến hành cải cách trang phục dân gian toàn xứ để “xóa hết thói tục hủ lậu của Bắc Hà”. Chúa đã “hạ lệnh cho nam nữ sỹ thứ trong nước đề mặc áo nhu bào, mặc quần vấn khăn, tục gọi là quần chân áo chít từ đây”.5 Lê Quý Đôn trong tác phẩm Phủ biên tạp lục viết về cuộc cải cách này cũng ghi “lệnh cho trai gái hai xứ đổi dùng áo quần Bắc quốc để tỏ sự biến đổi” và nhận xét “đến như khiến phụ nữ đều mặc áo ngắn hẹp tay như áo đàn ông thì Bắc quốc không có thế”.6

Sau quyết định của Chúa Nguyễn Phúc Khoát, loại hình Áo ngũ thân vốn đã phổ biến trong xã hội đã nhanh chóng trở thành Quốc phục của Đàng Trong. Năm 1776, trong thời kỳ chiếm đóng Thuận Hóa, chính Lê Qúy Đôn là người ra lệnh cho dân chúng phải bỏ loại trang phục này để trở lại cách ăn mặc giống Đàng Ngoài, và bắt buộc: “Thường phục thì đàn ông đàn bà dùng áo cổ đứng, ngắn tay, cửa ống tay áo rộng hay hẹp tùy tiện. Áo thì hai nách trở xuống phải khâu kín liền, không được xẻ mở”. Tuy nhiên, lệnh cấm của nhà Lê Trịnh hầu như không thực hiện được do thời gian tồn tại quá ngắn ngủi của họ. Năm 1786, quân Tây Sơn đã chiếm được Thuận Hóa, năm 1788, Nguyễn Huệ lên ngôi tại Huế lấy niên hiệu là Quang Trung, lập nên một triều đại mới.

Thực ra, trang phục Áo dài ngũ thân không chỉ không giống trang phục ở Đàng Ngoài mà cũng không phải của Trung Quốc, thậm chí có sự khác biệt khá xa. Thời Tây Sơn (1788 – 1801), kiểu trang phục này dân chúng vẫn sử dụng phổ biến. Khi Chapman đến Đàng Trong vào năm 1778, ông ghi nhận:

 “Đàn ông và phụ nữ Nam Hà đều mặc những bộ đồ được thiết kế theo cách giống nhau. Đây là những bộ đồ khiêm tốn nhất mà tôi từng được thấy, chúng chỉ gồm một Áo dài thả lỏng, cổ nhỏ cài cúc, bắt chéo trước ngực, trông không khác gì một chiếc Áo dài ngủ, ống tay áo rất dài và rộng, phủ kín cả hai bàn tay”.7

Trang phục dân gian này được thống nhất từ sau 1744 thời Chúa Nguyễn Phúc Khoát, tiếp tục thời Tây Sơn và sau này, dưới thời các vua Nguyễn.

Trang phục của người Đàng Trong so với người Đàng Ngoài đến lúc này đã có sự khác biệt rất lớn. Năm 1775, khi quân Trịnh vào chiếm Phú Xuân, Lê Quý Đôn thấy “quan quân ăn mặc lạ kiểu” nhưng xem ra họ ăn mặc sang trọng hơn nhiều so với Đàng Ngoài, bởi ngay cả dân gian thì “những sức mục dân gian cũng mặc áo đoạn hoa bát ty và áo sa, lương, địa làm đồ mặc vào ra thường, lấy áo vải áo mộc làm hổ thẹn […] Đàn bà con gái thì đều mặc áo the và hàng hoa, thêu hoa ở cổ tròn

Nhưng cũng với trang phục đó, các vua nhà Nguyễn lại khen ngợi khi so sánh với trang phục của dân chúng Đàng Ngoài. Sách Đại Nam thực lục ghi lời vua Gia Long năm 1802:“Dân Bắc Hà kiểu áo quần không đẹp”. Vua Minh Mạng thì còn chê trang phục miền ngoài khá nặng lời, Hội điển chép lời nhà vua: “Trước đây từ sông Gianh trở ra ngoài, y phục vẫn noi theo thói tục hủ lậu […] tục cũ người miền Bắc, đàn ông đóng khố, đàn bà mặc áo giao lĩnh, dưới mặc váy, đẹp xấu chẳng phải rõ ràng dễ thấy sao”. Cũng vì vua Minh Mạng cho rằng trang phục đó là hủ lậu, xấu xí nên đã nhiều lần ra chỉ dụ đổi thay y phục thống nhất như ở Đàng Trong, nhưng ở nông thôn miền Bắc, chiếc áo tứ thân cùng chiếc váy vẫn còn tồn tại đến đầu thế kỷ XX. Còn ở Đàng Trong, chỉ 30 năm sau khi Chúa Nguyễn Phúc Khoát cải cách, Lê Quý Đôn đã than thở “trải hơn 30 năm, người ta đều tập quen, quên cả tục cũ”.9 Sở dĩ như vậy không phải vì phụ nữ Đàng Trong dễ dàng tuân lệnh hơn phụ nữ Đàng Ngoài mà vì họ đã có thói quen ăn mặc như thế từ trước đó từ hàng thế kỷ.

I.3. Trang phục của cư dân Thừa Thiên Huế từ sau năm 1945 đến nay

Từ sau năm 1945, đặc biệt là sau năm 1954 trở lại đây, đa phần trang phục được Âu hóa, sự khác nhau giữa nông thôn và thành thị ít dần.

Ở miền Nam, từ những năm 1960, Áo dài nữ có nhiều biến đổi. Lúc này chất liệu vải và các đồ nội y cho phụ nữ phổ biến là từ phương Tây, nhất là nịt ngực (soutien) nên áo được may chít eo, chật để tôn ngực lên. Phụ nữ trẻ ở Huế hưởng ứng một cách rụt rè. Thời gian này, mẫu Áo dài cổ tròn, cổ thuyền, cổ trái tim được Trần Lệ Xuân ưa chuộng (thường gọi là cổ áo bà Nhu – phu nhân ông Ngô Đình Nhu) nhưng ở Huế vẫn trung thành với áo cổ đứng, ít chấp nhận, thậm chí phản đối kiểu áo này vì đi ngược với truyền thống, thuần phong mỹ tục. Cuối thập niên 1960, kiểu Áo dài tay raglan của nhà may Dũng ở Dakao Sài Gòn phổ biến với cách ráp tay áo được nối từ cổ xéo xuống nách, giảm thiểu nếp nhăn ở nách, giúp tà áo ôm khít theo đường cong và cánh tay cử động thoải mái hơn. Áo ba thân thành áo hai thân. Giới nữ trẻ thành thị vùng Huế hưởng ứng nhưng ở thôn quê và những người lớn tuổi, Áo dài vẫn được cắt may theo lối xưa. Giai đoạn này chiếc Áo dài vẫn tiếp tục biến đổi về cổ áo, gấu áo và eo áo, nhưng không lớn. Cổ áo lúc cao lúc thấp, lúc rộng lúc hẹp, gấu thì lúc vén cao lúc hạ thấp, eo áo lúc chật lúc rộng tùy theo thị hiếu. Có một số thay đổi ở quần: Từ quần chân què sang đáy giữa, dây lưng quần bằng dải rút thay bằng dây thun, gài nút (gài khuy, nút bóp) thay bằng dây kéo (fermeture), ống quần lúc hẹp lúc rộng. Phụ nữ Huế vẫn chuộng quần màu trắng. Một thời rất dài, nữ sinh Huế với những tà Áo dài màu tím mơ mộng, hoặc những tà áo màu xanh trong trẻo, những tà áo trắng tinh khôi đã làm xao lòng bao du khách, là nguồn cảm hứng sáng tạo của bao thế hệ nghệ sỹ, thi nhân.10

Sau năm 1975, chịu ảnh hường việc mặc áo ngắn của phụ nữ miền Bắc có từ cuộc vận động đời sống mới khởi phát năm 1945, cùng với quan điểm hẹp hòi sai lạc cho răng Áo dài là lạc hậu, phong kiến, cộng với đời sống kinh tế khó khăn, phụ nữ cả nước chủ yếu mặc áo ngắn, Áo dài họa hoằn mới có mặt vào ngày đại lễ. Trên đất Huế, nơi chiếc Áo dài thân thiết với người phụ nữ đã mấy trăm năm, nay trở thành niềm thương tiếc, nhưng mỗi khi có dịp, những tà Áo dài lại tung bay. Ở những người phụ nữ lớn tuổi, Áo dài được mặc thường xuyên hơn. Từ thập niên 1990 trở lại đây, cùng cuộc đổi mới của đất nước, chiếc Áo dài lại hồi sinh với diện mạo mới. Sự trở lại cùng với những kiểu mẫu Áo dài đa dạng, đôi khi xa lạ, xuất hiện thường xuyên trên các sân khấu thời trang, ở các cuộc thi hoa hậu, trong các đại tiệc hay cửa hàng may mặc thời trang chủ yếu dành cho người mẫu, doanh nhân, những người giàu sính diện, hơn là trong cuộc sống hằng ngày của người dân. Với phụ nữ Huế, Áo dài trở lại đều đặn hơn trong sinh hoạt thường ngày, tuy không còn như xưa: Trong nhà, ngoài phố, trong chợ búa, giữa cánh đồng… Người ta cũng hiểu không có mẫu Áo dài bất biến dành cho mọi người, mọi nơi chốn, mọi thời gian. Nhưng ngày nay, đứng trước những kiểu Áo dài được các nhà tạo mẫu biến tấu đến vô cùng để người mặc tha hồ chọn lựa, thì phụ nữ Huế vẫn yêu thích những kiểu áo mà giá trị đã được sàng lọc qua thời gian, những chiếc áo mà ở đó biểu đạt được tính chất vừa đoan trang vừa gợi cảm nhờ chất liệu vải và cách cắt may. Đó là những chiếc Áo dài vừa kín đáo tôn nét tuyệt mỹ của những đường cong cơ thể lại vừa bay bướm thướt tha với tà áo phất phơ chuyển động thành đường nét duyên dáng sinh động mỗi khi người mặc đi, đứng, ngồi…

Đối với người dân Huế, những đặc trưng ưu việt của chiếc Áo dài nữ giới như đã được định hình, hoàn thiện từ lâu đời.

Những trang phục mang nét đặc trưng của vùng Huế đi kèm với Áo dài là guốc, khăn và nón Huế. Người Việt có tập quán chung là đi chân đất, thời Trần, Lê rồi các chúa Nguyễn người dân đều như thế.11 Người bình dân, lao động thường đi chân không, tối rửa chân hoặc phủi hai bàn chân vào nhau rồi đi ngủ, những guốc, giày, dép chỉ đi khi vào dịp tết nhất, lễ lạt hoặc chỉ những người khá giả quen dùng. Là đất kinh kỳ, dân Huế thiên về tính đài các, đôi guốc dùng phổ biến không chỉ vì bảo vệ bàn chân mà còn tăng thêm vẻ trang trọng hay điệu đà. Guốc nam thường làm bằng gỗ mứt (gỗ nhỡ) có màu trắng, nhẹ, thớ mịn màng hay gỗ thầu đâu (xoan), thông, mít, để mộc không sơn, quai ngang, có hình dáng cứng cáp, như guốc xuồng. Ngược lại, guốc nữ (được gọi là guốc Huế) dáng thanh mảnh, giữa có thắt eo và độ xuôi phù hợp với phần lõm bàn chân, có sơn một hoặc hai màu, thường là màu đen, đà (nâu), trắng tùy theo trường hợp sử dụng hay lứa tuổi, tạo cho người dùng thêm nét nữ tính vì phải đi chậm rãi, khoan thai, nhẹ nhàng. Nghe tiếng guốc gõ nhịp theo bước chân, lộp cộp, loẹt quẹt, lách cách hay rộn ràng là đã biết được một phần tính cách của người đi.12

Nón là là đồ dùng để che mưa nắng thông dụng của người Việt, nhưng nón Huế còn là tác phẩm nghệ thuật thật sự, là yếu tố làm nên sự khác biệt so với nón của các vùng miền khác trên cả nước.13 Hình ảnh đặc trưng đầu tiên là hình dáng nón. Nón lá Huế được chằm từ khuôn có sẵn, 16 vành. Kích thước khuôn nón được đúc kết bởi cặp mắt của những người thợ nón tài hoa và điều ngạc nhiên là, kích thước đó rất thẩm mỹ,14 tạo cho nón lá Huế có hình dáng cân đối, hài hòa, mềm mại. Nón Huế nhẹ nhàng thanh mảnh, tạo cảm giác thanh thoát, được khen là nhẹ nhàng như cánh nhạn. Màu sắc nón là cũng đặc biệt, màu trắng xanh tự nhiên, được tạo ra bởi nguyên liệu lá từ đồi núi trong vùng cùng với một chuỗi kỹ thuật chằm nón tinh tế kèm theo. Làm tăng thêm sự quyến rũ nón Huế là chiếc nón bài thơ, giữa hai lớp lá mỏng manh, người chằm nón lót vào những hình ảnh danh lam thắng cảnh Huế hay câu thơ trữ tình bằng giấy. Những hình ảnh này hiện lên khi vành nón nghiêng dưới nắng. Đi cùng tà Áo dài tung bay, tiếng guốc khoan thai, mái tóc thề e ấp, vành nón Huế che nghiêng đã tạo nên một sự hòa hợp diệu kỳ làm duyên dáng người thiếu nữ Huế. Những chiếc nón được vang danh ấy nhờ vào bàn tay khéo léo của những người phụ nữ ngày xưa; họ ở khắp Triều Sơn, Đồng Di, Tây Hồ, Phủ Cam, Đốc Sơ, Kim Long, Sịa… và ngày nay, chằm nón là một nghề phổ biến, đông đảo người làm ở Thừa Thiên Huế.

Về trang sức, phụ nữ thích đeo kiềng, là vòng tròn hình ống làm bằng vàng, ít khi bằng bạc, để trơn hay chạm trổ, đeo quanh cổ. Cổ tay đeo xuyến vàng, ngoài tay áo, là loại vòng hình dẹt, đeo một chiếc thì xuyến to, thường chạm trổ, đeo nhiều chiếc thì xuyến nhỏ mảnh, để trơn. Ngón tay đeo nhẫn vàng trơn hay có mặt ngọc, tai đeo bông bằng vàng, trơn hoặc có mặt ngọc (khuyên tai dùng cho phụ nữ trẻ). Nhìn chung, “phụ nữ Huế ít dùng đồ trang sức, một số đeo kiềng vàng. Phấn son chỉ tô điểm nhẹ khi cần thiết, làm tôn vẻ đẹp tự nhiên của khuôn mặt”.15

II. Trang phục cung đình

Trang phục cung đình là một nét đặc trưng của xứ Huế mà không phải địa phương nào cũng có được. Với vai trò là thủ phủ trung tâm của Đàng Trong (1626 – 1774), kinh đô của Đại Việt thời Tây Sơn (1788 – 1801), kinh đô của nước Việt Nam/Đại Nam dưới thời Nguyễn (1802 – 1945), vùng đất Huế có một nền văn hóa cung đình được xây dựng, bồi đắp kéo dài hơn 300 năm mà ở mỗi thời kỳ đều có những nét độc đáo riêng. Với trang phục cung đình, xứ Huế cũng có ba thời kỳ: Thời chúa Nguyễn, thời vương triều Tây Sơn và thời Nguyễn, dù khác nhau nhưng vẫn có sự kế thừa và phát triển trong một mạch chung với không ít điểm tương đồng.

II.1. Trang phục cung đình thời chúa Nguyễn

Trang phục mang tính cung đình của thời chúa Nguyễn có lẽ bắt đầu xuất hiện từ khi chúa Nguyễn Hoàng quyết tâm đoạn tuyệt với Đàng Ngoài và xây dựng một chính quyền riêng, nhưng chỉ rõ ràng từ khi chúa Nguyễn Phúc Nguyên xung đột với Đàng Ngoài và đất nước bị chia cắt thành hai miền. Dẫu vậy, từ đó đến năm 1744, khi vị chúa đời thứ 8 là Nguyễn Phúc Khoát xưng vương hiệu, trang phục của các chúa Nguyễn có lẽ vẫn áp dụng theo quy chế trang phục thời Lê Trung hưng và không khác trang phục của chúa Trịnh. Các chúa Nguyễn cũng không thể sử dụng trang phục dành cho bậc đế vương vì họ chưa xưng vương/đế hiệu, và cũng là để phù hợp với danh nghĩa “phù Lê diệt Trịnh” mà chính họ luôn đề cao.

Năm 1744, Chúa Nguyễn Phúc Khoát “nhân nghe người Nghệ An truyền câu sấm “tám đời trở về trung đô”, thấy từ Đoan quốc công đến nay vừa đúng tám đời, bèn xưng vương hiệu, lấy thể chế áo mũ trong “Tam tài đồ hội” làm kiểu, hạ lệnh cho hàng võ từ chưởng dinh đến cai đội, hàng văn từ quản bộ đến chiêm hậu huấn đạo, đều y theo kiểu mới, áo đều dùng vóc đoạn, người sang thì dùng mãng bào thủy ba, mũ thì trang sức bằng vàng bạc16. Quốc Sử Quán triều Nguyễn (Đại Nam thực lục) cho biết chúa “châm chước chế độ các đời”, Trịnh Hoài Đức (Gia Định thành thông chí) lại ghi chúa “tham chước các đời Hán Đường đến chế độ Đại Minh và kiểu dáng chế độ mới (nhà Thanh)”. Lần cải định quan phục này có tham cứu các sách Hội điển của triều Hán, Đường, Tống, Minh, Thanh nhưng mô thức chính vẫn là sách Tam tài đồ hội của Vương Kỷ đời nhà Minh. Cuộc thay đổi này duy trì được 30 năm, đến khi quân Trịnh của Hoàng Ngũ Phúc đến chiếm Thuận Hóa thì kết thúc. Tuy vậy trang phục cung đình này vẫn còn ảnh hưởng quan trọng đến trang phục cung đình triều Tây Sơn và triều Nguyễn.

II.2. Trang phục cung đình triều Tây Sơn

Nguồn tài liệu và hiện vật hiện có trong nước về y quan phẩm phục cung đình Tây Sơn rất hiếm hoi. Những ghi chép và những bức họa quý giá của nhà Thanh, ghi chép của các sứ giả Triều Tiên tận mặt gặp gỡ sứ thần Tây Sơn và vua Quang Trung17 tại triều đình nhà Thanh mới được khai thác gần đây giúp các nhà nghiên cứu, phác họa diện mạo trang phục cung đình Tây Sơn ở Phú Xuân, một triều đại trị vì quá ngắn ngủi, vỏn vẹn 14 năm. Dù vậy nhà nghiên cứu Trần Quang Đức vẫn cho rằng, các loại hình trang phục triều Tây Sơn vẫn kế thừa trực tiếp và có nhiều điểm tương tự trang phục cung đình thời Chúa Nguyễn Phúc Khoát.

II.3. Trang phục cung đình triều Nguyễn

Không như thời các chúa Nguyễn lấy tư tưởng Phật giáo làm chỗ dựa tinh thần, các vua thời thịnh Nguyễn, dẫu đã tiếp xúc với văn hóa Tây phương, vẫn tôn sùng Nho giáo, yêu chuộng thi thư, xem văn minh Trung Hoa dưới các đời Hán, Đường, Tống, Minh là mẫu mực để học tập và kế thừa. Triều Nguyễn với niềm tự tôn, xem văn hiến triều Minh hơn cả triều nhà Thanh đương thời, bởi gốc gác Mãn Châu của nhà Thanh là xứ man di và các nước phương Tây cũng là một thứ Tây di.18 Quy chế áo mão phẩm phục triều Nguyễn kế thừa một phần quy chế thời Lê Trung hưng, thời Chúa Nguyễn Phúc Khoát và tham khảo thêm chế độ trang phục của các triều đại Trung Hoa, trong đó thời Tống – Minh là nguồn tham cứu chính. Những quy chế này được ghi chép trong Khâm định Đại Nam hội điển sự lệ (gọi tắt là Hội điển), bộ sách ghi chép các điển chương chế độ, điển pháp và quy chế liên quan đến tổ chức và hoạt động của triều Nguyễn. Hội điển chép chi tiết quy chế cho từng đối tượng: Hoàng đế, hoàng hậu, hoàng thái hậu, cung giai, hoàng thái tử, hoàng tử, hoàng thân và các tôn tước, công chúa, hoàng tộc và các công tử, quan văn võ, mệnh phụ văn võ và phụ mẫu, ấm tử, viên tử, quan viên, thân biền, cử nhân, giám sinh Quốc Tử Giám, tôn sinh, võ cử, nhân dân, với những chi tiết rõ ràng về kiểu dáng, màu sắc, chất liệu vải và phụ kiện…19

– Trang phục hoàng đế: Trang phục hoàng đế được chia ra các loại: lễ phục, đại triều phục, thường triều phục, quân phục. 

Lễ phục là trang phục dùng trong lễ tế Giao và các tế lễ tại tông miếu… Trong lễ tế Giao dùng lễ phục Cổn Miện và lễ tế tông miếu dùng lễ phục Xuân Thu. Thời Gia Long, tế Giao vua đội mũ Cửu Long, mặc Hoàng bào, đai ngọc, xiêm vàng theo quy chế thời Lê Trung hưng, nhưng đến năm 1830, vua Minh Mạng đổi sang lễ phục Cổn Miện. 

Đại triều phục: Sử dụng tại các buổi thiết đại triều. Vua đội mũ Cửu Long Thông Thiên (mũ Xung Thiên được sức thêm nhiều đồ trang sức bằng vàng và đá quý), mặc Hoàng bào, thường, đai, hộ tất, bít tất, mang hia… 

Thường triều phục: Sử dụng tại các buổi thường triều. Hoàng đế đội mũ Cửu Long Đường Cân (còn gọi tắt là Đường Cân), mặc Long bào và các phục sức đi kèm như thường, kế y, bít tất, hia, cũng được quy định chi tiết từng loại.

 Quân phục: Sử dụng khi duyệt binh. Ngoài ra, khi cày ruộng Tịch điền, vua đội mũ Đường Cân, mặc áo Long trấn hẹp tay, đai, hia như khi duyệt binh.

– Trang phục hoàng tử, hoàng thân và các quan văn võ

Trang phục của hoàng tử, vương công và các quan triều Nguyễn rất đa dạng, được đặt định từ vua Gia Long, hoàn thiện thời vua Minh Mạng, các vua đời sau chỉ có vài sửa đổi nhỏ. Họ cũng có đủ các loại: lễ phục, đại triều phục, thường triều phục, nhung phục (hay võ phục, dành cho quan võ)

– Trang phục hậu, phi và công chúa

Trang phục hậu, phi và công chúa của triều Nguyễn có các kiểu cách quý phái, trang nhã, đẹp đẽ, được phân biệt rõ ràng cho từng đối tượng.

III. Áo ngũ thân với những đặc trưng và sự cần thiết phải kế thừa, phát huy giá trị

Như trên đã đề cập, khoảng đầu thế kỷ XVII, ở Đàng Trong mà trọng tâm là tại vùng đất Huế đã xuất hiện một loại Áo dài mới do cư dân sáng tạo nên, loại Áo dài này rất phù hợp với môi trường sống, quan niệm sống và tính cách của người Việt hồi đó: Áo ngũ thân (hay Áo năm thân). Đây cũng là tiền thân của các loại hình Áo dài truyền thống đương đại của nước ta hiện nay. Từ năm 1744, gắn liền với công cuộc cải cách và định chế trang phục ở Đàng Trong, Chúa Nguyễn Phúc Khoát đã quy định, Áo ngũ thân trở thành loại thường phục chung của cư dân toàn xứ sở. Sang đầu thế kỷ XIX, trong những năm 1828 – 1837, sau khi thống nhất và ổn định tình hình đất nước, vua Minh Mạng đã đưa ra quy định bắt buộc tất cả người dân Việt Nam, từ Bắc chí Nam, đều phải sử dụng trang phục Áo ngũ thân, và xem đây là sự thống nhất về văn hóa của một quốc gia độc lập với nền văn hiến lâu đời, có chế độ y quan (áo mũ) rực rỡ! Điều đó có nghĩa là Áo dài ngũ thân đã trở thành trang phục chung hay Quốc phục của người Việt Nam.

So với các loại hình Áo dài khác (cả Áo dài nam và nữ), Áo ngũ thân tay chẽn là loại trang phục giản tiện, gọn gàng vì nó là loại thường phục dành cho tất cả mọi đối tượng, không phân biệt địa vị, giai tầng xã hội (rất khác so với triều phục vốn có sự phân biệt rất rõ ràng về thứ bậc). Tuy nhiên, Áo dài ngũ thân lại mang trên mình những ý nghĩa rất sâu sắc. Trang phục Áo dài ngũ thân đầy đủ bao gồm 4 bộ phận: khăn vấn, áo, quần và giày/guốc. Đối với đàn ông Việt, chiếc khăn vấn (từ đầu thế kỷ XX xuất hiện loại khăn đóng sẵn để giản tiện hơn và phù hợp với việc cắt tóc ngắn) có hình chữ Nhân hay chữ Nhất, không chỉ làm tôn lên dáng vẻ khuôn mặt, khắc phục được các hạn chế về mái tóc, giúp họ cao hơn vài phân mà còn khiến họ không thể nhầm lẫn với đàn ông các dân tộc khác. Chiếc Áo ngũ thân có chiếc cổ tròn, cao từ 3 – 4cm, giữ cho người mặc luôn nhìn thẳng; áo có năm thân, gồm hai thân trước, hai thân sau (được đấu nối với nhau do ngày xưa khổ vải hẹp) và một thân con bên trong, biểu tượng cho tứ thân phụ mẫu và bản thân người mặc; 5 hạt cúc áo thì biểu tượng cho năm phẩm chất cao quý làm người (ngũ thường): Nhân, Lễ, nghĩa, Trí, Tín (hoặc Dũng), cũng biểu trưng cho năm mối quan hệ rường cột trong xã hội (ngũ luân): Vua – tôi, thầy – trò, cha – con, chồng – vợ, và bạn bè. Chiếc quần trắng ống rộng giúp người mặc thoải mái. Đôi hài (thành thị) hoặc guốc gỗ (vùng nông thôn) được sử dụng cùng, nhưng từ đầu thế kỷ XX, tiếp thu ảnh hưởng của văn minh phương Tây, trang phục Áo ngũ thân đã kết hợp với giày tây, hay giày hạ hoặc các loại dép da…

Với nữ giới thì chiếc Áo ngũ thân (cấu tạo cũng gần tượng tự chiếc áo nam) khiến cho họ trở nên đoan trang, kín đáo mà vẫn nền nã, nữ tính. Áo ngũ thân nữ có cổ áo thấp để khoe chiếc cổ cao 3 ngấn duyên dáng; phối cùng áo là khăn lươn vấn đầu một hoặc hai lớp, cùng quần trắng và hài hoặc guốc mộc, sau này thường kết hợp với các loại giày cao gót được thiết kế phù hợp.

Bên ngoài Áo ngũ thân tay chẽn, khi có nghi lễ thì ông cha chúng ta sẽ khoác thêm một chiếc áo tay rộng (gọi là áo lễ hay áo thụng), cùng kiểu cổ tròn, cổ đứng (viên lĩnh, lập lĩnh) như áo tay chẽn hay vạt chéo (giao lĩnh) tùy theo nghi lễ, còn hầu hết những lúc khác chỉ mặc thường phục tay chẽn.

Có thể nói, Áo dài ngũ thân là loại trang phục độc đáo, riêng có của người Việt, vừa tiện dụng, phù hợp với môi trường sống, tầm vóc và tính cách của người Việt Nam lại vừa rất đẹp và không kém phần trang trọng, kín đáo. Loại trang phục này không chỉ được sáng tạo nên tại Thuận Hóa mà còn được cư dân Huế trân trọng gìn giữ qua bao thế hệ, trở thành một đặc trưng, một thương hiệu riêng của xứ Huế.

Theo các tác giả của Địa chí Thừa Thiên Huế, phần Văn hóa, ở các vùng trên cả nước, Áo dài là lễ phục, riêng với vùng Huế, Áo dài là một phần trong lễ phục nhưng cũng là y phục thường ngày. Một thời không xa, ở Huế, hầu như chiếc Áo dài luôn theo bên mình mỗi người. Trong cung, vua mặc Áo dài khi đọc sách; cung nữ mặc Áo dài khi ngồi học; trong nhà mặc Áo dài khi tiếp khách; ra khỏi nhà đi chợ, đi bán hàng rong, ra đồng cấy hái, chèo đò trên sông… đều mặc Áo dài. Cả người ăn xin cũng mặc Áo dài. Tùy theo đối tượng, hoàn cảnh, thời gian mà Áo dài có những biến cách khác nhau.20 

Với những đặc điểm và đặc trưng đó, Áo dài ngũ thân là một di sản quý của Huế, cần được kế thừa và phát huy giá trị. Những nỗ lực của tỉnh Thừa Thiên Huế trong những năm qua trong việc gìn giữ, phát triển Áo dài, đặc biệt là trong hơn 3 năm gần đây, từ khi giao cho ngành Văn hóa và Thể thao chủ trì triển khai Đề án “Huế – Kinh đô Áo dài Việt Nam”, Áo dài ngũ thân đã có sự phục hồi và lan tỏa mạnh mẽ không chỉ trong phạm vi tỉnh Thừa Thiên Huế mà còn lan rộng ra toàn quốc, thậm chí cả một số quốc gia có người Việt sinh sống. Đặc biệt là đối với thế hệ trẻ, lực lượng học sinh, sinh viên, Áo dài ngũ thân và các loại cổ phục được họ quan tâm ngày càng nhiều hơn. Tại Hà Nội, Đoàn thanh niên Trường đại học KHXH&NV hàng năm đều tổ chức ngày hội Bách Hoa Khánh Hội; tại Thành phố Hồ Chí Minh, Đoàn trường đại học KHXH&NV cũng tổ chức ngày hội Tóc Xanh Vạt Áo vào tháng 3 hàng năm. Các hoạt động này đều thu hút hàng nghìn sinh viên tham gia trải nghiệm và sáng tạo. Riêng ở Huế, sự quan tâm Áo dài truyền thống và cổ phục còn lan tỏa đến các học sinh ở một số trường trung học phổ phông, phổ thông cơ sở, thậm chí cả ở bậc tiểu học như trường THPT Quốc Học, Trường THCS Chu Văn An, Trường tiểu học Quang Trung… trong khá nhiều hoạt động, bao gồm cả các cuộc thi kiến thức và kỹ năng sống, thi vẽ, thiết kế, trình diễn thời trang… Ở bậc đại học thì sinh viên nhiều trường, đặc biệt là sinh viên các khoa tiếng nước ngoài của trường đại học Ngoại ngữ Huế đã có sự tiếp cận và trải nghiệm Áo dài truyền thống và cổ phục trong nhiều sinh hoạt. Trên cơ sở đó, chúng tôi cho rằng, hoàn toàn có thể đưa Áo dài truyền thống, đặc biệt là Áo dài ngũ thân vào trường học và tùy theo độ tuổi, cấp bậc học mà tạo điều kiện cho những cách tiếp cận phù hợp. Đây là việc làm hết sức cần thiết để vừa nâng cao nhận thức của học sinh, sinh viên về di sản trang phục truyền thống, vừa bồi dưỡng lòng yêu nước, tình yêu văn hóa, di sản, khuyến khích khả năng tiếp cận và sáng tạo của các em, các thế hệ chủ nhân tương lai.

Kết luận

Dẫu trong xã hội đương đại, Việt Nam đã hội nhập toàn diện cùng thế giới, trong xu thế chung, khi Âu phục đã phổ biến ở nước ta hơn một trăm năm qua, thì tại Thừa Thiên Huế, các loại hình trang phục truyền thống vẫn được bảo tồn và phát huy giá trị khá tốt, đặc biệt là Áo dài Huế, loại trang phục được sản sinh chính từ vùng đất này hàng trăm năm trước.

Áo dài Huế không phải ngẫu nhiên mà đã trở thành một thương hiệu nổi tiếng mà do đây là loại hình trang phục có lịch sử lâu đời, từng một thời được xem là Quốc phục của Đàng Trong dưới thời các chúa Nguyễn, rồi Quốc phục của người Việt Nam trong thời Nguyễn gắn liền với một quốc gia thống nhất, có lãnh thổ, lãnh hải rộng nhất trong lịch sử. Sau ngày đất nước Đổi Mới, mà đặc biệt là sau khi chia tách để tái lập tỉnh Thừa Thiên Huế (1989), Áo dài phụ nữ lần đầu tiên đã được đưa vào chốn công sở của ngành giáo dục trên địa bàn thành phố Huế, để rồi từ đó lan tỏa mạnh mẽ ra cả nước, và đến nay đã trở thành loại hình trang phục tiêu biểu, là một biểu tượng cho vẻ đẹp của phụ nữ Việt Nam. Từ năm 2000 đến nay, Thừa Thiên – Huế cũng đã nỗ lực quảng bá Áo dài trong rất nhiều các hoạt động và chương trình lễ hội, đặc biệt là trong các kỳ Festival văn hóa, Festival Nghề truyền thống. Và từ năm 2020, Thừa Thiên Huế lại tiên phong trong việc đưa Áo dài nam vào công sở, nỗ lực triển khai Đề án “Huế – Kinh đô Áo dài Việt Nam”, tạo nên hiệu ứng rất tích cực trong toàn thể cộng đồng cả ở trong và ngoài nước, góp phần quan trọng xây dựng nên thương hiệu chung của một nước Việt Nam với các hình ảnh biểu trưng: “Hồn sen, nón lá và Áo dài” (Thủ tướng Phạm Minh Chính).21

Tuy nhiên, để có sự lan tỏa và phát triển bền vững, rất cần phải đưa di sản Áo dài và trang phục truyền thống vào trường học – đó là sự chuẩn bị cho tương lai, để các thế hệ chủ nhân tương lai sẽ hiểu biết và phát huy hiệu quả hơn một trong những di sản rất quý của cố đô Huế nói riêng và Việt Nam nói chung.

Ngoài các loại hình Áo dài truyền thống và cách tân dành cho mọi tầng lớp nhân dân, Thừa Thiên Huế còn từng có một di sản trang phục cung đình phong phú mà đến nay vẫn gìn giữ, bảo tồn được một bộ phận đáng kể. Ngoài ra là trang phục truyền thống của các dân tộc thiểu số như người Hoa, người Cờ Tu, Bru – Vân Kiều, Tà Ôi… Có thể nói, đó là một di sản rất quý mà nếu bảo tồn và phát huy tốt thì không chỉ góp phần không nhỏ vào việc bảo tồn, chấn hưng văn hóa truyền thống mà còn đóng góp tích cực cho sự phát triển kinh tế xã hội, nhất là ngành du lịch, dịch vụ.

Cũng chính vì vậy, cần có sự quan tâm đầu tư nghiên cứu và có những giải pháp phù hợp để bảo tồn và phát huy hiệu quả di sản trang phục truyền thống của cố đô Huế .

P.T.H

Chú thích:

1. Hồ Quý Ly (1978), “Đáp Bắc nhân vấn An Nam phong tục”, in trong Thơ văn Lý Trần (tập III), NXB KHXH, Hà Nội.

2. Dương Văn An (2015), Ô Châu cận lục, Trần Đại Vinh dịch, NXB Thuận Hóa, tr. 69.

3. Theo nhà nghiên cứu trang phục Trịnh Bách, y phục nữ Trung Hoa từ năm 477 trước Công nguyên đến thập niên 1920 không thấy loại áo bì bào, tức là áo ôm như Áo dài người Việt. Loại áo trường sam (đọc theo âm Quảng Đông là sườn xám) nghĩa là áo dài, xẻ tà cao đến gối, chỉ xẻ một bên, xuất hiện trong thập niên 1920. 

4. Phan Khoang (2000), Việt sử xứ Đàng Trong, NXB Văn học, tr 487.

5. Dã sử lược biên Đại Việt quốc Nguyễn triều thực lực. Dẫn theo Trần Quang Đức, sđd, tr. 260.

6. Lê Quý Đôn (2015), Phủ Biên tạp lục, Trần Đại Vinh dịch, NXB Đà Nẵng, tr. 292.

7. Chapman, Relation d’un voyage en CochinChine en 1778. Dẫn theo Trần Quang Đức, sđd, tr. 264.

8. Lê Quý Đôn (1963), Phủ biên tạp lục, sđd, tr. 292.

9. Lê Quý Đôn (1963), Phủ biên tạp lục, sđd, tr. 293.

10. Ủy ban nhân dân tỉnh Thừa Thiên Huế (2020), Địa chí Thừa Thiên Huế, Phần Văn hóa, NXB Thuận Hóa, Tập 1, Tr 145.

11. Sứ thần nhà Nguyên Trần Cương Trung khi thấy người Việt “dân đều đi chân đất” đã nhận xét “da chân họ rất dày, leo lúi như bay, gai góc không sợ”. Giáo sỹ Cristophoro Borri cũng thấy dân Đàng Trong đi chân đất “da cứng lại đến nỗi không còn thấy khó chịu, mặc dầu phải đi trên đường có nhiều đá sỏi và gai” và sau khi ở Đàng Trong hơn 4 năm, “riêng tôi, tôi đã quen lắm khi trở về Macao, tôi không chịu được giày, cảm thấy chúng thật nặng nề và làm đôi chân tôi vướng víu làm sao” (C. Borri, sđd, tr. 59).

12. Ủy ban nhân dân tỉnh Thừa Thiên Huế (2020), Địa chí Thừa Thiên Huế, Phần Văn hóa, NXB Thuận Hóa, Sđd, Tập 1, Tr 146.

13.“Nón ở Thuận Hóa kiểu hơi khác với các xứ. Giáp ba tức giáp thượng xã Triều Sơn, huyện Phú Vang chằm nón rất mỏng” (Lê Quý Đôn (2015), Phủ biên tạp lục, sđd, tr. 283).

14. Người ta đã đo và ngạc nhiên khi nón là Huế có số đo 1,618, gần với tỷ lệ vàng của toán học, nghệ thuật. Dẫn theo www.nonlavietnam/bai – viet/ 158.

15. Đoàn Thị Tình (1987), Tìm hiều trang phục Việt Nam (đan tộc Việt). Nxb Văn hóa, Hà Nội, tr. 98.

12. Ủy ban nhân dân tỉnh Thừa Thiên Huế (2020), Địa chí Thừa Thiên Huế, Phần Văn hóa, NXB Thuận Hóa, Sđd, Tập 1, Tr 146.

13.“Nón ở Thuận Hóa kiểu hơi khác với các xứ. Giáp ba tức giáp thượng xã Triều Sơn, huyện Phú Vang chằm nón rất mỏng” (Lê Quý Đôn (2015), Phủ biên tạp lục, sđd, tr. 283).

14. Người ta đã đo và ngạc nhiên khi nón là Huế có số đo 1,618, gần với tỷ lệ vàng của toán học, nghệ thuật. Dẫn theo www.nonlavietnam/bai – viet/ 158.

15. Đoàn Thị Tình (1987), Tìm hiều trang phục Việt Nam (đan tộc Việt). Nxb Văn hóa, Hà Nội, tr. 98.

17. Trước đây nhiều tài liệu cho rằng người qua Trung Quốc dự lễ Bát tuần đại khánh của hoàng đế Càn Long nhà Thanh là một giả vương (người đóng giả vua Quang Trung), nhưng các nghiên cứu mới nhất của tác giả Nguyễn Duy Chính lại cho rằng, nhân vật này chính là Nguyễn Quang Bình, tức vua Quang Trung thật. Nhưng dù là giả vương hay chân vương thì trang phục của nhân vật này vẫn chính xác là trang phục của người đứng đầu vương triều Tây Sơn.

18. Lý Văn Phức trong Biện Di luận viết “lại có bọn đem cả nước ra làm trò dị hợm, bất chấp cương thường đạo nghĩa của người ta, như bọn man di giảo quyệt Đông Tây Dương thời nay vậy, gọi là di vì cách làm của chúng” và “có ông Lý Chấn Nhân là Nho học Huấn đạo triều Thanh, tích cực khẳng khái, sau khi thấy áo mũ nước ta liền ném mũ của mình xuống đất nói rằng: Ta là di rồi”. Dẫn theo Trần Quang Đức, sđd, tr. 46, 47.

19. Các trích dẫn phần “mũ áo” trong sách Hội điển sau đây chúng tôi chủ yếu dẫn theo bản dịch của Trần Quang Đức (sđd) hoặc của Trần Đình Sơn (Đại lễ phục Việt Nam triều Nguyễn 1802-1945, Nxb Hồng Đức, 2014) là những bản dịch chính xác về thuật ngữ chuyên dụng, hơn bản dịch Khâm định Đại Nam hội điển sự lệ hiện hành. Ngoài phần mũ áo ở quyển 78, Hội điển còn đề cập quy chế nhung phục ở quyển 151, 152 và Ban thưởng áo mùa xuân, mùa hè, mùa đông cho nội cung, hoàng tử, công chúa, công nữ…, các quan ở quyển 247.

20. Ủy ban nhân dân tỉnh Thừa Thiên Huế (2020), Địa chí Thừa Thiên Huế, Phần Văn hóa, Tập 1, NXB Thuận Hóa, Sđd, Tập 1, Tr 142.

21.  Phát biểu trong Lễ Bế mạc SEA Games lần thứ 31, tại Hà Nội, ngày 23/5/2022;

Tài liệu tham khảo:

1. Cristophoro Borri (1998), Xứ Đàng Trong năm 1621, NXB Thành phố Hồ Chí Minh.

2. Dương Văn An (2015), Ô Châu cận lục, Trần Đại Vinh dịch, NXB Thuận Hóa.

3. Đoàn Thị Tình (1987), Tìm hiều trang phục Việt Nam (dân tộc Việt), NXB Văn hóa, Hà Nội.

4. Hồ Qúy Lý (1978), “Đáp bắc nhân vấn An Nam phong tục”, in trong Thơ văn Lý Trần (tập III), NXB KHXH, Hà Nội.

5. John Barrow (2008), Một chuyến du hành đến xứ Nam Hà (1792-1793), NXB Thế Giới, Hà Nội.

6. Lê Quý Đôn (2015), Phủ Biên tạp lục, Trần Đại Vinh dịch, NXB Đà Nẵng. 

7. Li Tina (1999), Xứ Đàng Trong. Lịch sử kinh tế – xã hội Việt Nam thế kỷ XVII và XVII. NXB Trẻ.

8. Nguyễn Khoa Chiêm (2003), Nam triều công nghiệp diễn chí. NXB Hội Nhà văn, Hà Nội.

9. Nội các triều Nguyễn (1993), Khâm định Đại Nam hội điển sự lệ, Bản dịch của Viện Sử học, NXB Thuận Hóa, Huế.

10. Phạm Thị Minh Tâm (2004), Trang phục Cung đình thời Nguyễn, Luận văn Cao học, Ðại học Huế.

11. Phan Chu Trinh toàn tập (2005), tập 3, NXB Đà Nẵng

12. Phan Huy Chú (1992), Lịch triều Hiến chương loại chí, bản dịch của Viện Sử học, NXB. Khoa học Xã hội, phần Lễ nghi chí.

13. Phan Khoang (2000), Việt sử xứ Đàng Trong, NXB Văn học.

14. Quốc Sử quán triều Nguyễn (2004-2012), Khâm định Đại Nam hội điển sự lệ tục biên, Bản dịch của Viện Sử học, NXB Giáo dục, Hà Nội.

15. Sở Văn hóa & Thể thao Thừa Thiên Huế (2022), Huế kinh đô Áo dài Việt Nam, NXB Thuận Hóa, Huế.

16. Tạ Chí Đại Trường (2011), Người lính thuộc địa Nam Kỳ (1861 – 1945), NXB Tri thức, Hà Nội.

17. Thái Kim Lan (2015), Bộ sưu tập Áo dài xưa: Màu vàng lồng lộng chảy tràn á xanh, Viện Goeth Việt Nam.

18. Thích Đại Sán (1963), Hải ngoại kỷ sự. Nxb Viện Đại học Huế.

19. Trần Quang Đức (2013), Ngàn năm áo mũ, NXB Thế Giới- Công ty Nhã Nam.

20. Trịnh Bách (2020), Nguồn gốc Áo dài Việt Nam, tham luận tại hội thảo “Áo dài Việt Nam: Nhận diện, tập quán, giá trị và bản sắc”; Hội LHPNVN tổ chức.

21. UBND Thừa Thiên Huế (2020), Địa chí Thừa Thiên Huế- Phần Văn hóa, tập 1, NXB Thuận Hóa, Huế.

22. Vương Xuân Tình (Chủ biên, 2020), Các dân tộc ở Việt Nam, Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam- Viện Dân tộc học- Tập 3: Nhóm ngôn ngữ Môn-Khơ me, NXB Chính trị Quốc  gia.

Các quan lại làm việc trong cung thời Vua Bảo Đại mặc tiện phục Áo ngũ thân. Ảnh tư liệu trước năm 1945.
Cán bộ ngành Văn hóa & Thể thao Thừa Thiên – Huế tham dự ngày Tết truyền thống tại Bảo tàng Gốm cổ sông Hương. Ảnh Phillip Phạm.
Cán bộ ngành Văn hóa & Thể thao Thừa Thiên Huế tham gia Lễ dâng hương tại Thế Tổ Miếu nhân ngày giỗ của Vua Hàm Nghi
Người phụ nữ mặc Áo dài ngũ thân bế con, trước cổng chùa Thiên Mụ, Huế. Ảnh tư liệu trước năm 1945.
TS Phan Thanh Hải cùng thành viên CLB Đình làng Việt chụp ảnh lưu niệm trong Đại Nội, Huế, ngày 18.6.2022.
Vua Hàm Nghi trong trang phục Áo dài ngũ thân. Ảnh chụp tại Algiers, năm 1900.
Vua Thành Thái và đoàn tùy tùng, khoảng năm 1897 – 1898. Ảnh tư liệu trước năm 1945
GS. TS. Bác sỹ Bùi Duy Tâm và phu nhân trong lần về thăm Huế, năm 2022.
Vua Khải Định và Hoàng Thái tử Vĩnh Thụy. Ảnh tư liệu chụp khoảng năm 1922.

TS. Phan Thanh Hải

Ủy viên Hội đồng Di sản Văn hóa Quốc gia; 

Giám đốc Sở Văn hóa và Thể thao Thừa Thiên – Huế