ƯỚC VỌNG CỦA CON NGƯỜI TRÊN CHẠM KHẮC ĐÌNH LÀNG THẾ KỶ XVI – XVIII

Nguyễn Đức Bình

Hình ảnh con người xuất hiện trên trang trí kiến trúc đình làng, ngoài chức năng trang trí cho kiến trúc, tô điểm cho công trình thì hình ảnh con người còn có một ý nghĩa quan trọng đối với đời sống tâm linh của cả cộng đồng. Trước khi nó đóng vai trò phản ánh hiện thực xã hội thì nó phải truyền tải những thông điệp của cộng đồng với thần linh, mang những ước vọng.

Phần lớn con người trên trang trí kiến trúc giai đoạn này được phản ánh trong đời sống dân dã, hình ảnh con người là vua quan ít được đề cập tới. Dù vậy, ở giai đoạn này xã hội đã bị phân hóa, nhưng đấu tranh giai cấp chưa trở thành khốc liệt thì những ước mơ nói chung của nông dân vẫn là tiến tới thành địa chủ, cho nên trên đình làng vẫn có nhiều bức chạm về kẻ giàu có với hình thức người ăn vận quần áo sang trọng ngồi trên ngai, trên sập có kẻ hầu đứng bên cạnh (đình Thổ Tang, đình Phù Lão, đình Chu Quyến, đình Ngọc Canh, đình Liên Hiệp). Qua đó, chúng ta ít thấy nét châm biếm mỉa mai, dù rằng con người trong đề tài này kém sinh động. Đề tài sản xuất hoặc về những bất công trong xã hội cũng rất hiếm thấy. Phải chăng trong trí tưởng tượng phong phú của người nông dân nước ta đã chỉ dành cho những ước mơ về hạnh phúc, về rộn rã của ngày hội với đoàn người, ngựa, voi, kiệu lộng, đàn hát.. (đình Phùng, đình Xốm, đình Liên Hiệp, đình Chảy, đình Cổ Mễ, đình Quang Húc…).

Mả táng hàm rồng, chạm khắc trên kiến trúc đình Chu Quyến, Quảng Oai (Ba Vì cũ), Hà Nội
Mả táng hàm rồng, chạm khắc đình Hạ Hiệp, Phúc Thọ cũ, Hà Nội
Bắt hổ, chạm khắc trên đình Hương Canh (Bình Xuyên, Vĩnh Phúc cũ)
Trai gái “tình tự”, chạm khắc đình Phù Lão, Bắc Giang cũ

Giai đọan thế kỷ XVI – XVII – XVIII, lòng tin của dân chúng vào Nho giáo có phần bị khủng hoảng. Nhà nước vẫn kiên trì bảo vệ nền Nho học để giữ gìn kỷ cương xã hội. Tuy vậy, vai trò Nho giáo thời kỳ này rơi vào sự suy đốn, mất lòng tin trong dân chúng. “Những nguyên tắc đạo đức và lễ giáo phong kiến chỉ còn là những hình thức suông. Nội dung học tập thi cử nông cạn, khuôn sáo, không còn tính sáng tạo. Nhà sử học Lê Quý Đôn đã thừa nhận “các bậc tiền bối đã soạn thành bài, lời lẽ cổ nhã, bọn hậu sinh đua nhau làm theo, khi vào trường chỉ xén bớt những chỗ quá dài dòng đi mà thôi. Đó là chưa nói tới một hiện tượng khá phổ biến ở cả Đàng Trong và Đàng Ngoài là nhà nước phong kiến đã bán quan tước. Những người không có học nhưng có tiền thì dùng tiền mua chức tước. Trong thi cử, nhiều vụ hối lộ và ăn hối lộ đã diễn ra trắng trợn. Thuyết “chính danh định phận”, một nội dung cơ bản của Nho giáo nhằm bảo vệ chế độ đẳng cấp và tôn ty trật tự phong kiến, mất dần phép màu nhiệm. Đạo lý đảo điên. Sự phát triển mạnh mẽ của nền kinh tế hàng hoá và sự tấn công của đồng tiền vào thành trì lễ giáo phong kiến đã làm cho ý thức hệ Nho giáo bị rạn nứt dần. Triết lý “chính danh định phận” của đạo Nho đã phải lùi bước trước nhân sinh quan đồng tiền là trên hết, đè bẹp tất cả” (Lương Ninh (2000), Lịch sử Việt Nam giản yếu, Hà Nội, NXb Chính trị Quốc gia). Chính vì vậy, trên chạm khắc đình làng giai đoạn thế kỷ XVII xuất hiện khá nhiều mảng chạm khắc dựa trên tích truyện Mả táng hàm rồng (đình Thụy Phiêu, đình Liên Hiệp, đình Phùng, đình Đông Viên…) đây là ước vọng thăng tiến, đổi đời của người nông dân. Uớc vọng đế vương bắt nguồn từ việc mất lòng tin vào chế độ khoa cử, họ không tin vào việc thực học sẽ thành tài, do đó luôn luôn có khát vọng đổi đời bằng phép màu kỳ diệu. 

N.Đ.B

(Trích trong chuyên đề nghiên cứu Hình ảnh con người trong trang trí kiến trúc đình làng Bắc Bộ của Nguyễn Đức Bình)