NGUỒN GỐC VÀ THỜI ĐIỂM XUẤT HIỆN CỦA NGÔI ĐÌNH LÀNG VIỆT

PGS. TS Bùi Xuân Đính

1. NGUỒN GỐC NGÔI ĐÌNH (GIẢ THIẾT)

Về nguồn gốc và thời điểm ra đời của ngôi đình làng Việt, đến nay vẫn có những ý kiến khác nhau. Một số người giải thích, “đình” có nghĩa là “đình trạm”, đình làng có nguồn gốc từ các đình trạm/dịch trạm trên các đường Thiên lý từ kinh đô (Thăng Long) về các trấn lỵ. Một số người căn cứ vào ghi chép trong sách ‘Đại Việt sử ký toàn thư” (“vào tháng Tám năm Tân Mão niên hiệu Kiến Trung đời Trần Thái Tông, tức tháng 9/1231, xuống chiếu trong cả nước, phàm chỗ nào có đình trạm đều phải tô tượng Phật để thờ. Trước là tục nước ta vì nắng mưa nên làm nhiều đình để cho người đi đường nghỉ chân, trát vách bằng vôi trắng, gọi là đình trạm”) để cho rằng, từ các đình trạm này biến thành đình làng và ngôi đình làng xuẩt hiện vào đầu thời Trần. 

Thực tế, ý kiến trên chưa đủ sức thuyết phục vì các lý do:

1. Các đình trạm trên các đường Thiên lý (còn gọi là đường Cái quan, hay đường Cái cao, xuất hiện từ thời Bắc thuộc, không phải đến thời Trần mới có; thời Pháp thuộc, nắn và nâng cấp các đường này thành Quốc lộ). Trên các đường Thiên lý này, cứ 25 – 30 dặm (mỗi dặm khoảng hơn 500 mét) đặt một trạm, mỗi trạm có một số phu trạm và ngựa, có quan phụ trách để “chạy” công văn, giấy tờ, hộ tống các quan từ các địa phương về trung tâm cai trị của bọn phong kiến Trung Hoa (hay kinh đô Thăng Long từ thời Lý), hay quan triều đình đi về các địa phương, cả quan đi sứ nước ngoài. Các trạm lần lượt bàn giao công việc cho nhau, mỗi khi có quan hay việc quan đến. Hoàn toàn không có chuyện thời Trần mới có đình trạm. Cũng có hiện tượng ở nhiều địa phương, dọc các con đường đi (ra đồng, sang các làng khác), có các ngôi nhà để trú mưa nắng, nhưng dân gian thường gọi là cầu hay quán, không gọi là đình.

2. Không phải làng nào cũng có đường Thiên lý chạy qua, nên không có việc từ đình trạm biến thành đình làng. 

3. Ghi chép trên của sách Đại Việt sử ký toàn thư trên đây cho thấy, Vua Trần Thái Tông xuống chiếu cho cả nước tô tượng Phật để đặt thờ trong các đình trạm ở những nơi có  công trình này, chứ không phải xuống chiếu lập các đình trạm. Sở dĩ có việc đưa tượng Phật vào đình trạm là do thời Trần, Phật giáo được thịnh hành. 

Như vậy, không thể cho rằng, đình làng có nguồn gốc từ “đình trạm” trên các con đường Thiên lý.

Các điếm sàn (điếm xóm) của làng Quế Dương (Sấu Vật), nay thuộc xã Dương Hòa, Hà Nội. Ảnh trên trang Facebook của Tran Trung Ha

 

Vậy đình làng có nguồn gốc từ đâu, ra đời khi nào?

Nhiều người đã biết, làng Việt gồm các xóm, tùy địa thế, địa hình và lịch sử  tụ cư mà các xóm được bố trí theo kiểu mật tập hay phân tán. Thuở ban đầu, mỗi  xóm có một điếm xóm, là nơi tổ chức các sinh hoạt của từng cộng đồng cư dân nhỏ đó, cũng là nơi thờ thần linh bản thổ. Các điếm này đều là điếm sàn, dáng dấp kiểu ngôi đình sau này. Cạnh điếm có giếng nước, cây đa (hoặc cây si), tạo nên cảnh cổ kính. Tại nhiều làng ven sông ở huyện Hoài Đức (cũ), Thành phố Hà Nội, gần đây vẫn còn nhiều điếm xóm như thế này. Riêng làng Sấu (Dương Liễu) đến năm 2016 vẫn còn 24 điếm sàn, gồm cả các điếm được dựng trước tháng 8 năm 1945 và các điếm mới dựng lại. 

Về sau, cư dân đông lên, yêu cầu có nơi sinh hoạt tập trung của cả dân làng đặt ra việc xây dựng ngôi đình, lấy “nguyên bản” là ngôi điếm xóm.

II. THỜI ĐIỂM RA ĐỜI CỦA NGÔI ĐÌNH

Ai cũng biết, đình làng là công trình kiến trúc to lớn, đòi hỏi nguồn nguyên, vật liệu đồ sộ, một tiềm lực kinh tế lớn cùng nguồn nhân công đông đúc và các kinh nghiệm kỹ thuật mới có thể dựng được. Nói cách khác, đình làng chỉ xuất hiện khi làng đã đông dân, ổn định về địa vực và cơ cấu tổ chức cùng các lệ tục, vững về kinh tế (từ nguồn chung của cộng đồng hay của các cá nhận có tiềm lực). Thời Trần, làng Việt chưa có được các điều kiện đó. Phải từ thời Lê Thánh Tông (1460 – 1497), nhất là từ niên hiệu Hồng Đức (1470 – 1497), các điều kiện đó mới chín muồi, tạo điều kiện để ngôi đình ra đời.

Đình Thụy Phiêu, Ba Vì, Hà Nội. Ảnh: Trần Trung Hiếu 

CLB Đình làng Việt thăm đình Thụy Phiêu, Ba Vì, Hà Nội, 2017. Ảnh: Trần Trung Hiếu

Bên trong đình Thụy Phiêu, Ba Vì. Ảnh: Nguyễn Thành

Mảng chạm trên vì nóc đình Thụy Phiêu, Ba Vì, Hà Nội. Ảnh: Nguyễn Hoài Nam

Tuy nhiên, các ngôi đình cổ nhất còn lại ở miền Bắc hiện nay đều là đình thời Mạc (sớm nhất là đình Thụy Phiêu, huyện Ba Vì cũ của thành phố Hà Nội, năm 1531) vì thế, nhiều nhà nghiên cứu cho rằng, không có đình thời Lê sơ (1428- 1527). Mặc dầu vậy, giả thiết đình có từ thời Hồng Đức trên đây của chúng tôi được tư liệu thành văn chứng minh. Theo sách “Hồng Đức thiện chính thư” (sách chép về các việc chính sự tốt thời Hông Đức, được biên soạn vào niên hiệu Hồng Đức, bổ sung vào thời Mạc), trong điều 319 (là một trong 55 điều được ban bố vào năm thứ năm niên hiệu Hồng Đức/Giáp Ngọ, 1474) có nội dung “xử phạt những người bỏ bê việc giỗ chạp theo như khoán lệ” đối với “Nhà giàu đã bỏ tiền ra làm đình hay công đức làm chùa”. Điều khoản này khẳng định đình có từ thời điểm này, do các cá nhân đứng ra dựng; và tục đặt – cúng hậu đình cũng đã có từ thời đó. 

Còn trên thực tế, ở làng Ngọc Cục (xã Thúc Kháng, huyện Bình Giang trước đây) của tỉnh Hải Dương có ngôi đình thời Hồng Đức. Theo ông Tăng Bá Hoành – Nguyên Giám đốc Bảo tàng Hải Hưng, tại trụ báng của đình trước đây có hàng chữ ‘Hông Đức, Giáp Thìn tạo” (tạo năm Giáp Thìn niên hiệu Hồng Đức, 1484), nhưng gần đây, trùng tu, người ta đã bỏ trụ báng này (!?).  

Mấy điều giả thiết nêu ra, xin mọi người cùng bàn luận. 

B.X.D