
PGS. TS Bùi Xuân Đính
Đình làng là ngôi nhà chung của từng cộng đồng cư dân làng Việt, xuất hiện vào khoảng giữa thế kỷ XV; đảm nhận các chức năng: là nơi sinh hoạt chính trị – xã hội, nơi thờ vọng thành hoàng, nơi tổ chức hội làng cùng các sinh hoạt văn hóa.
Đình một mặt phản ánh sự phát triển của các cộng đồng làng (thể hiện ở hệ thống các vị thần được thờ, ở cơ cấu tổ chức, phong tục của làng qua các di văn Hán Nôm…), song cũng phản ánh sự can thiệp của nhà nước phong kiến vào làng, thể hiện ở hệ thống thần được phê duyệt cùng các bản sắc phong, hình ảnh con rồng ở nóc Đình, ở cửa võng tại gian giữa và các mảng điêu khắc dân gian trên các bức cốn, các kẻ bẩy… và đặc biệt là hệ thống ngôi thứ trong đình, dựa trên các tiêu chuẩn về bằng, cấp, phẩm, hàm, chức tước mà nhà nước quân chủ phong kiến áp đặt). Từ ngôi nhà chung của cộng đồng làng, ngôi đình bị phong kiến hóa sâu sắc, trở thành nơi thể hiện đặc quyền riêng của những người thuộc “đẳng cấp” trên, với quyền ăn, quyền nói” và cả quyền “được gói mang về”, tức phần chia biếu xôi thịt sau tế lễ. Một bộ phận người dân nghèo khổ không được bước chân vào đình,. Một số được vào đình, nhưng ở một vị trí thấp, chỉ “nhìn” chỗ “cụ lý, cụ bá’ mà ao ước. Đến khi thực dân Pháp đặt ách thống trị lên đất nước ta, đình làng thể hiện sự câu kết quyền lực giữa thực dân và phong kiến tay sai để áp bức, bóc lột nông dân: đình là nơi bộ máy chức dịch cùng các kỳ mục làng xã thực thi các chính sách thâm độc, tàn bạo của chính quyền thực dân, trong đó, dã man nhất là chính sách thuế. Đình chứng kiến bao cảnh “Nửa đêm thuế thúc trống dồn/Sân đình máu chảy, đường thôn lính đầy”, người thiếu thuế, chậm sưu bị đánh đập, cùm trói… Ngôi đình đã trở thành nỗi hãi hùng của những người nông dân cùng khó.
Sau khi Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời, phong trào cách mạng bùng lên ở nhiều địa phương. Trong cao trào Xô Viết Nghệ Tĩnh 1930 – 1931, nhiều đình là nơi tập hợp lực lượng để đấu tranh chống sưu thuế. Trong phong trào vận động dân chủ (1936 – 1939), nhiều ngôi đình là nơi tập hợp xin chữ ký đòi tự do dân chủ, hoặc trực tiếp đối đầu giữa lực lượng cách mạng với bọn thống trị tay sai đầu tỉnh, đòi hoãn thuế, giảm sưu (như đình làng Đại Mỗ, phủ Hoài Đức, tỉnh Hà Đông); hoặc chống bọn thực dân cướp đất công làng xã (như đình Yên Lộ, cùng thuộc phủ, tỉnh trên).
Trong cuộc vận động cách mạng những năm 1939 – 1945, ở nhiều làng, lực lượng cách mạng phát triển, đình làng là nơi nhật được các truyền đơn, áp phích, cờ đỏ sao vàng…, kêu gọi nhân dân vùng dậy “chặt xích phá xiềng” của phát xít Nhật, thực dân Pháp, và phong kiến tay sai.


Những ngày cuối tháng 8/1945, các ngôi Đình là nơi chứng kiến sự thay đổi lớn lao trong lịch sử làng quê Việt gắn với lịch sử đất nước: lực lượng cách mạng các làng xã triệu các chức dịch, kỳ mục đến đình để tịch thu triện bạ, tuyên bố xóa bỏ chính quyền phong kiến tay sai ở cấp cơ sở, thành lập chính quyền nhân dân, trước sự phấn khởi của đông đảo nhân dân. Như vậy, đình là nơi chứng kiến sự thất bại hoàn toàn sự thống trị của chế độ thực dân và phong kiến tay sai; sự thắng lơi của cuộc cách mạng giải phóng dân tộc.
Những ngày tháng sau đó, đình làng là nơi diễn ra các sự kiện lớn lao chưa từng có: là nơi làm việc của chính quyền cách mạng, nơi tổ chức các cuộc sinh hoạt, biểu dương lực lượng của các đoàn thể mới được thành lập. Người dân quê đến với ngôi đình không còn với tư cách của kẻ bạch đinh hay phận dưới, thấp cổ bé họng trước các cụ chánh, cụ bá, mà với tư cách người làm chủ, bình đẳng.
Cách mạng cũng xóa bỏ lệ tục ngặt nghèo của làng xã không cho phụ nữ vào đình. Đình cũng là nơi tổ chức các lớp bình dân học vụ, mở mang dân trí, với khí thế “Thi đua kiến quốc“; nơi các đội tự vệ luyện tập quân sự, với khí thế “Thề độc lập“. Đặc biệt, trong “Tuần lễ vàng“, đình là nơi thể hiện cao độ tinh thần yêu nước của người dân quê: nhiều người đã tháo hoa tai vàng, vòng tay vàng, thậm chí cả kỷ vật đời người là nhẫn cưới để ủng hộ Chính phủ. Người không có vàng thì ủng hộ đỉnh đồng, lư đồng…
Trong khí thế thi đua kiến quốc, xây dựng chế độ mới, các lễ thức thờ thần đã giảm tới mức tối đa, thậm chí nhiều làng bỏ hẳn; các ngày hội làng cũng không còn được tổ chức, xóa đi bao kỷ niệm buồn của những người trong cuộc hay từng chứng kiến tệ nạn bè phái, xôi thịt từ ngôi thứ đình trung.
Có thể nói, Cách mạng Tháng Tám 1945 không chỉ trả lại cho ngôi đình làng Việt vị thế, chức năng vốn có ban đầu, mà còn tạo ra một khí thế mới, đem lại cho người dân quê không khí tự do, độc lập, có giá trị tinh thần lớn lao, để sẵn sàng bước vào cuộc kháng chiến thần thánh chống thực dân Pháp trở lại xâm lược ít lâu sau đó.
B.X.Đ

