
Nguyễn Đức Bình
Một mảng chạm trên kiến trúc đình làng thế kỷ XVI thường không có nhiều nhân vật. Ở đình Tây Đằng (thế kỷ XVI) trong một bức phù điêu cũng chỉ có 4 nhân vật, như cảnh chèo thuyền, trai gái chải tóc nho nhau, trai gái tình tự. Sang đến thế kỷ XVII, số lượng nhân vật tăng lên rất nhiều, nhất là các mảng chạm trên kẻ và ván dong. Ở đình Thổ Tang (thế kỷ XVII) mảng chạm trên kẻ – ván dong lên tới 21 người (thống kê năm 2011). Các mảng chạm bố cục đông người thường được chạm khắc trên thành phần kiến trúc có diện tích rộng, như cốn, kẻ, cánh gà, lá gió. Đình Ngọc Canh bức cốn mê chạm khắc tới 19 nhân vật, bức cốn ở đình Phù Lão 18 hình tiên cưỡi rồng, bức cốn đình Hương Canh có 16 nhân vật với nhiều hoạt cảnh khác nhau… Ở đình Thổ Tang, các thanh kẻ cũng là kết cấu được chạm khắc nhiều nhân vật, nó kết hợp với tấm ván dong tạo thành bề mặt rộng có thể trang trí bố cục tới 21 nhân vật. Cũng với kết cấu kẻ – ván dong ở đình Xốm chạm 18 nhân vật. Các nhân vật trong bố cục đông người thường được tạo nhiều dáng đứng ngồi khác nhau. Ở đình Thổ Tang, mảng chạm Sinh hoạt xã hội là sự liên kết giữa kẻ và ván dong để tạo thành một bức chạm với nhiều hoạt cảnh. Với mảng chạm có sự liên kết kẻ – ván dong này, nếu để ý kỹ ta sẽ thấy nó được chia làm hai tuyến nhân vật theo thành phần kiến trúc. Khi ghép 2 thành phần đó lên, ta chỉ thấy được sự gắn kết về phong cách và đề tài chứ không thấy sự kết nối về hình khối. Các nhân vật trong một bố cục đông người thường theo các nhóm nhân vật trên một không gian đồng hiện, bởi vì sự sắp xếp các nhân vật rất ngẫu hứng, hình của nhóm nhân vật này, của đề tài này ăn sang hình của nhóm nhân vật khác hoặc đề tài khác. Ở đây các hình trong mảng chạm ít có sự phân chia mạch lạc.


Trở lại mảng chạm Sinh hoạt xã hội ở Thổ Tang, các nhân vật được phân bố với hình dáng con người dày đặc nở đầy trên bề mặt kiến trúc.
Cách tả kể của mảng chạm cho ta thấy sự gần gũi với nội dung trong tranh “Thanh minh thượng hà đồ” của Trương Trạch Đoan (đời Tống ở Trung Quốc).
Với bức chạm trên cốn đình Hương Canh. Bức cốn được chia làm 3 tầng nhân vật, trên cùng là 2 đô vật, phía dưới là cảnh đoàn đi săn trở về (cùng chiến lợi phẩm là một con thú, phía sau là đoàn người cầm súng cùng chú chó, nhưng cuối đoàn người là cảnh một người đang ngắm bắn một con thú), tầng dưới là cảnh một người ngồi thiền, người cưỡi rồng, rồng tóm con thú, cảnh hai người đấu khiên. Ở mảng cốn này, người xem cũng khó phân biệt được chủ đề, nhóm nhân vật một cách rõ ràng. Các hoạt cảnh trong mảng cốn không đồng nhất về chủ đề, không thống nhất trong một không gian cụ thể.




Ở đình Hạ Hiệp có bức chạm Đi săn (còn gọi là Quan quân cướp bóc) ngoài hoạt cảnh đi săn náo nhiệt với phi ngựa hò reo, ngắm bắn, đem lợn làm mồi nhử…, còn cảnh người ngồi thanh thản nghỉ ngơi. Do diện tích tấm ván dong trên kẻ rất nhỏ, nên phần hoạt cảnh người chỉ có trên thân kẻ mà thôi. Các nhân vật, mỗi người một dáng sinh động, đều nhìn hướng theo con ngựa chạy về phía trước (hướng vào chính giữa đình). Hình khối bức phù điêu này nổi cao, các nhân vật như muốn văng ra ngoài mà không cần đến độ bám dính vào thân gỗ. Nền cảnh mảng chạm không sử dụng nhiều đao mác, mây lửa, mà chỉ có vài chỗ điểm xuyết như một ý thức nhằm nhắc đến mà thôi. Chi tiết trên các nhân vật và con thú được giản lược tuyệt đối, chỉ còn lại hình khối căng tròn trên khuôn mặt, thân hình người và vật, chân dung nhân vật trên thanh kẻ chỉ nhấn mạnh mũi, miệng chứ không tả mắt (đây là đặc điểm chung cho tạo hình nhân vật trên chạm khắc đình Hạ Hiệp và phần lớn đình làng Bắc bộ thế kỷ XVII, XVIII).

Với diện tích khiêm tốn khoảng 40cm chiều đứng và 100cm chiều dài, tấm ván dong đình Phong Cốc (Yên Hưng, Quảng Ninh) chạm đông nhân vật, với nhiều hoạt cảnh khác nhau. Nào là cảnh đấu vật, uống rượu, cưỡi ngựa, cảnh điều voi, cảnh người bơi trong tay cầm chiếc giỏ. Trung tâm mảng chạm là con thuyền, có kiểu dáng đặc biệt. Trên mạn thuyền, cô gái đang hong tóc, mấy anh thủy thủ ôm cột buồm đứng ngắm, có cả chú chó thanh thản đánh giấc nồng trên nóc thuyền. Với kỹ thuật chạm nông, mảng chạm được tạo hình khá mạch lạc và khái quát. Hình các nhân vật được chạm dày đặc trên bề mặt tấm gỗ, hướng chuyển động của hình đi từ phải sang trái hướng vào lòng đình. Chiếm tỉ lệ lớn trong mảng phù điêu là hình con thuyền, hai bên là các hoạt cảnh sinh hoạt dân gian, nội dung cho thấy đó là cảnh sinh hoạt trên bến dưới thuyền, mà cụ thể ở đây là một tàu buôn nước ngoài, xung quanh là hoạt động thường nhật của người dân trên đất liền.
Hình thức bố cục đông người với nhiều đề tài khác nhau còn thấy ở trên kiến trúc đình Ngọc Canh, đình Hương Canh, đình Phù Lão, đình Hạ Hiệp… Ở các mảng chạm trong các di tích trên, các đề tài được mô tả trên nền cảnh rồng, thú và hoa, lá. Đình Hạ Hiệp có hệ thống lá gió bao quanh lòng đình, trên mỗi ván gió ấy đều chạm lộng dày đặc hình rồng và thú. Mỗi mảng lá gió thường có 2 hình đầu rồng chiếm tỷ lệ lớn, phụ trợ là các hình rồng con, thằn lằn, nghê, đao mác… điểm vào đó là hình ảnh về con người với nhiều đề tài khác nhau như đấu vật, uống rượu, mả táng hàm rồng, người múa, ông già ngồi bó gối, người cưỡi ngựa…
N.Đ.B
(Trích: Đề tài Hình ảnh con người trong chạm khắc kiến trúc đình làng, Phần: Bố cục nhiều nhóm người với nhiều đề tài khác nhau)
