MỸ THUẬT ĐÔNG SƠN – ĐỈNH CAO MỸ THUẬT TIỀN SỬ VIỆT NAM

TS Nguyễn Việt

Văn hoá Đông Sơn thực sự là một đỉnh cao toàn diện trong thời tiền sử Việt Nam và Đông Nam Á. Nền văn hoá này tiêu biểu bởi những di vật làm bằng đồng thau. Số lượng di vật đồng được đầu tư lao động nghệ thuật lên tới hàng ngàn tiêu bản, lan toả khắp một vùng rộng lớn từ Nam sông Trường Giang (Trung Quốc) đến tận những hòn đảo miền Đông Indonesia. Gần đây, bên cạnh đồ đồng, khảo cổ học Vi Tư liệu Việt Nam bắt đầu phát hiện hàng ngàn mảnh vải tuỳ táng Đông Sơn. Khảo cổ học Vải bắt đầu đưa ra ánh sáng những bằng chứng đầu tiên về tư duy, thủ pháp trang trí trên vải của người Đông Sơn. Với một khối lượng tư liệu đồ sộ, tác giả đã xây dựng thành nhiều chuyên đề nhằm có thể nêu bật được các vấn đề xứng tầm với một đỉnh cao nghệ thuật tiền sử khu vực và phần nào mang tính quốc tế. Về tiến trình tiền sử thì văn hoá Đông Sơn (khoảng TK7-8 TCN đến TK2-3 sau CN) là cây cầu nối giữa thời kỳ tiền sử muộn với thời kỳ hình thành nhà nước đầu tiên. Và với sự xuất hiện những nhà nước sớm đó, xã hội Đông Sơn có một phần đã bước vào kỷ nguyên văn minh, văn hiến theo quan niệm một xã hội đã tồn tại dưới tác nhân điều hành của một bộ máy thượng tầng quản lý xã hội mang tính Nhà nước. Tôi muốn mở đầu và nhấn mạnh tính chất xã hội đó của văn hoá Đông Sơn, bởi vì chính điều này sẽ giải thích những hiện tượng đỉnh cao của nghệ thuật tiền sử xảy ra trong thời kỳ này.


Vòng ốp chân hình ống bằng đồng có nhạc chuông mang phong cách Đông Sơn, loại hình Làng Vạc. 
Sưu tập Bảo tàng Lịch sử Quốc gia

1. Những yếu tố mới tạo nên đỉnh cao nghệ thuật Đông Sơn

Một nền nghệ thuật thường chịu tác động của bốn yếu tố: 1/ Trình độ thẩm mỹ xã hội (tiến hoá nhận thức, tích tụ văn hoá…), 2/ Khả năng và trình độ kỹ thuật của xã hội, 3/ Sự thăng hoa của nghệ nhân và 4/ Nhu cầu, sự đánh giá, tôn vinh của xã hội.

Xét về tiến hoá lịch sử theo thời gian thì rõ ràng hai yếu tố đầu (1 và 2) chỉ phản ánh sự tiến bộ có tính kế thừa của xã hội, trong đó bao hàm cả tính nhảy vọt lượng – chất. Trong các bài trước, chúng ta đã xem xét vấn đề này từ cuộc chuyển biến của xã hội săn bắt hái lượm Hoà Bình – Bắc Sơn sang xã hội trồng lúa quảng canh sớm hậu kỳ đá mới – sơ kỳ kim khí (Bình tuyến Phùng Nguyên). Từ bình tuyến Phùng Nguyên đến xã hội Đông Sơn là quá trình tích tụ văn hoá của một xã hội gồm những làng trồng lúa và thủ công nghiệp sau hàng ngàn năm phát triển. Điểm nổi nhất của quá trình này là xuất hiện phổ biến nguyên liệu kim loại (đồng) như khai khoáng, luyện kim. Và chính trong quá trình khai khoáng, luyện kim đã làm tăng vượt nhận thức về các loại đá trang sức, đá mỹ nghệ (trong nghề đá thủ công) cũng như khả năng nâng cao độ nung nhờ kỹ năng tạo lò luyện kim và chọn lựa chất độn (trong nghề gốm). Cùng chính từ nấu khoáng luyện kim, tức đồng một nguyên liệu mới xuất hiện: thuỷ tinh, men gốm – một loại khoáng nóng chảy. Xã hội Đông Sơn vì thế không còn chỉ mộc mạc với những gam màu tự nhiên như màu đá, màu tre gỗ, xương sừng và màu thổ cẩm mà bắt đầu rực sáng lung linh với ánh màu kim loại (đồ của đồng, vàng sáng của thau và ánh trắng của hợp kim thau cao thiếc).

Cùng với kim loại, sự phong phú của các nguyên liệu đá khoáng phục vụ trang sức, nhuộm mã não, thuỷ tinh… khiến những vòng tai, vòng tay, chuỗi cổ của người Đông Sơn rực rỡ hơn bất kể giai đoạn nào trước đó. Sự có mặt của nguyên liệu kim loại đã mang vào nền nghệ thuật Đông Sơn một yếu tố mới: âm thanh. Yếu tố âm vang của kim loại thực dụng đã tác động rất đáng kể vào tư duy sáng tạo nghệ thuật Đông Sơn. Trong những phản xạ chung của sáng tạo mỹ thuật thời kỳ này, chúng ta dễ có thể thấy tính đồng điệu đó.

Yếu tố thứ ba là sự thăng hoa của nghệ nhân cũng có những bước nhảy vọt trong thời Đông Sơn. Chính nền tảng văn hoá xã hội và sự gia tăng các phương tiện, vật liệu kỹ thuật đã giúp nghệ nhân Đông Sơn khả năng thăng hoa trong sáng tạo. So với bình tuyến Phùng Nguyên, chỉ tính riêng số loại hình nghệ thuật thể hiện trong phạm trù motif, kiểu dáng đã tăng lên vài ba chục lần, còn nếu tính về số lượng hiện vật, con số đó phải tăng tới hàng trăm lần. Ngoài ra cần nhắc đến tác động của nền kinh tế lương thực Đông Sơn. Dường như sự gia tăng nhanh của đất lúa, thuận hoà của thời tiết đã khiến nền sản xuất lương thực ở các vụ lúa chính của văn hoá Đông Sơn (sông Hồng, sông Mã, sông Cả, sông Châu Giang) tăng trưởng rõ rệt. Tính đến cuối văn hoá Đông Sơn, khoảng những thế kỷ trước sau công nguyên, số lượng thóc trong vùng đủ nuôi gấp ba lần số dân. Nhờ đó một số rất đông lao động đã thoát khỏi nền sản xuất lương thực trực tiếp chuyển vào những ngành nghề thủ công, mà có chính là những cái nôi cho sáng tạo nghệ thuật. Đó có thể nói là sự phát triển ổn định của nền sản xuất lương thực lúa có thặng dư cao đương thời đã góp phần tạo nên tăng trưởng trong thăng hoa nghệ thuật Đông Sơn.

Dấu ấn thăng hoa nghệ thuật Đông Sơn phần nào được ghi nhận qua nội dung phản ánh phồn thực, tình yêu nam nữ. Khá nhiều tượng người và động vật thể hiện cặp đôi, tính giao. Hiện tượng này ghi nhận sự chín muồi trong nhận thức về hạnh phúc lứa đôi và trùng lặp với sự gia tăng truyền thuyết thần thoại về cặp đôi đương thời (Tiên Dung – Chử Đồng Tử, My Châu – Trọng Thuỷ…).

Yếu tố thứ tư trong thời Đông Sơn bộc lộ những điều rất mới mẻ đối với nền nghệ thuật tiền sử Việt Nam. Đó là sự gia tăng rõ rệt của yêu cầu xã hội Đông Sơn đối với sáng tạo nghệ thuật, cả về số lượng lẫn chất lượng. Xã hội Đông Sơn là xã hội bắt đầu xuất hiện một cách rõ nét và có hệ thống sự phân hoá giàu nghèo và phân chia xã hội thành nhiều tầng lớp, nhiều loại thân phận và ngành nghề khác nhau. Sáng tạo nghệ thuật trong quá trình sản xuất vật dụng không còn mang tính đồng đều như trước nữa mà bắt đầu có sự cạnh tranh nhằm đáp ứng nhu cầu tiêu dùng, thẩm mỹ của các loại người khác nhau trong xã hội. Nhất là khi xã hội xuất hiện những người có nhiều tài sản nhưng lại thoát ly hẳn khỏi hệ thống lao động sản xuất trực tiếp mà chỉ chuyên tâm vào quản lý xã hội (thổ hào, quan lại, chiến binh…) thì họ chính là những nhân tố kích cầu cho sự đua nở các sản phẩm Đông Sơn độc đáo.

Bên cạnh đó, còn phải kể đến một nhu cầu xã hội khác, đó là sự gia tăng về quy mô các lễ hội mang tính cộng đồng cao cấp (nhà nước) lẫn dân gian. Lần đầu tiên nghệ thuật tiền sử Việt Nam đạt đến trình độ có thể mô tả sự việc, sự kiện. Đó là những dàn cảnh săn bắn, lễ hội mùa, lễ hội khải hoàn… trên các đồ đồng nghi lễ như trống, thạp…

Sự giao lưu trao đổi với những nền văn hoá cao đương thời (Ấn Độ, Trung Hoa) cũng là một yếu tố làm đa dạng, phong phú và kích thích sự phát triển của nghệ thuật Đông Sơn. Và khi nhận thức được đầy đủ những lĩnh vực khác của nghệ thuật văn hoá tinh thần Đông Sơn chúng ta dễ dàng nhận ra nguồn cội thăng hoa trong các sáng tạo mỹ thuật tạo hình Đông Sơn.

Cảnh chó săn hươu trên một qua đồng Đông Sơn. Sưu tập Bảo tàng Barbier-Mueller, Geneva 

Ảnh trái trên: Tượng người thổi kèn cõng nhau. Sưu tập Bảo tàng Lịch sử VN
Ảnh trái dưới : Tính giao nam nữ trên nắp thạp đồng Đào Thịnh. Sưu tập Bảo tàng Lịch sử VN
Ảnh phải: Tượng nam trên cán dao găm đồng. Sưu tập Nhà hàng Trống đồng Đông Sơn, Hà Nội

2. Thử phân chia các loại hình mỹ thuật Đông Sơn

Tôi muốn mở rộng vấn đề nghệ thuật Đông Sơn trước khi chuyên sâu vào lĩnh vực mỹ thuật Đông Sơn. Nói đến nghệ thuật Đông Sơn là muốn bàn đến những phản ánh tư liệu liên quan đến lĩnh vực văn hoá tinh thần, trong đó bao gồm cả hát múa, lễ hội, nghệ thuật tạo hình. Phải nói rằng, chính năng lực mô tả của nền mỹ thuật Đông Sơn đã hé mở cho chúng ta một số hình ảnh về hát xướng và lễ hội đương thời – điều mà chúng ta không thể có trong các nền nghệ thuật Hoà Bình – Bắc Sơn – Đa Bút hay Phùng Nguyên trước đó. Và khi nhận thức được đầy đủ những lĩnh vực khác của nghệ thuật văn hoá tinh thần Đông Sơn, chúng ta dễ dàng nhận ra nguồn cội thăng hoa trong các sáng tạo mỹ thuật tạo hình Đông Sơn.

Để phân loại, chúng tôi tách nghệ thuật mô tả thành một chủ đề lớn.

a. Nghệ thuật mô tả Đông Sơn và một số kỹ thuật mô tả đặc trưng thông qua các dữ kiện khảo cổ học:

Lễ hội mùa lúa: Đó là một dàn cảnh ổn định và có tính chuẩn hoá trong nghệ thuật Đông Sơn được thể hiện ở vành trang trí chính của những trống đồng lễ nghi lớn (như một số trống Ngọc Lũ, Cổ Loa, Sông Đà, Miếu Môn, Khai Hoà…) và duy nhất trên thân thạp đồng Hợp Minh (Yên Bái). Đây là một dàn cảnh Đông Sơn điển hình có một diện phân bố rộng từ phía Nam sông Dương Tử (Trung Quốc) đến tận Indonesia trải dài từ giữa thiên kỷ 1 trước Công nguyên đến những thế kỷ đầu Công nguyên. Trung tâm dàn cảnh là ngôi nhà sàn mái cong, bên trong có người đang lễ và dàn nhạc gồm khèn, trống, sênh.

Xung quanh là hai phụ cảnh gồm một đoàn vũ công cầm sênh nhảy múa theo tiếng khèn (thường ở phía trước nhà sàn, tức phía bên trái) cùng dàn trống đồng có người giã phía sàn trên nhà sàn, và một phụ cảnh nữa là cảnh giã gạo, sàng gạo bên cạnh kho thóc thể hiện việc chế biến đồ dâng lễ cho thần thánh hay chủ nhân trong nhà sàn. Toàn cảnh này hiện có hai kiến giải khoa học với nội dung khác nhau: một số nhà khoa học gắn với lễ hội mùa lúa, một số khác cho rằng đó là lễ dâng hiến cho chủ nhân qua đời.

Lễ hội khải hoàn: Trên một số tang trống đồng nghi lễ lớn và trên nhiều thân thạp đồng Đông Sơn thường là nơi nghệ nhân Đông Sơn ghi lại dàn cảnh này. Đây cũng là một nội dung có tính quy chuẩn ổn định. Thường là một đoàn gồm 6 thuyền chiến có người lái thuyền và lâu bắn cung nỏ ở cuối thuyền, bên dưới là có chứa đồ đồng chiến lợi phẩm, cột trống da và tù binh ở giữa thuyền, xung quanh là chiến binh hoá trang lông chim cầm rìu, giáo và đầu lâu kẻ thù. Đầu thuyền là người cầm rìu, bên dưới có treo đầu quân địch. Các hình chim, thú, cá ở trên và dưới thuyền được diễn kín các khoảng trống còn lại. Chiến binh, tù binh, đầu lâu kẻ địch và chiến lợi phẩm đã khẳng định nội dung lễ hội khải hoàn khá phổ biến trong văn hoá Điền, Việt đương thời.

Lễ hội đua bơi thuyền chải: Trên khá nhiều trống đồng, rìu đồng và hộ tâm phiến có diễn tả cảnh thuyền có người chèo chải. Đó là những thuyền độc mộc ít trang trí. Người chèo thuyền có hoá trang hoặc ở trần. Một vài trường hợp có người cầm nhịp. Đây là một nội dung khá phổ biến còn lưu ảnh ở rất nhiều dân tộc Đông Nam Á từ thời cổ đại đến ngày nay.

Cảnh săn hươu: Đây cũng là một nội dung trang trí ổn định trên đồ đồng Đông Sơn, trong đó thường thấy trên rìu đồng và qua đồng loại hình sông Hồng. Cảnh săn bao giờ cũng có người và chó xua đuổi đàn hươu có sừng bằng thuyền và trên bộ. Đôi khi xen kẽ có cả hình những con chim mỏ dài.

Dàn nhạc Đông Sơn: Chúng ta mới thấy mô tả dàn nhạc Đông Sơn trong lễ hội mùa. Gần đây mới phát hiện hai khối tượng mô tả độc lập một dàn nhạc Đông Sơn. Trong đó có người đánh trống da, người thổi khèn, người gõ sênh và những người đứng chống nạnh thưởng ngoạn. Chúng tôi sẽ mô tả chi tiết hai khối tượng này ở một bài khác.

Thế giới động vật: Trong nghệ thuật Đông Sơn được mô tả độc lập mang tính trang trí hay được diễn vào các nền cảnh chính mang ý nghĩa thể hiện thế giới môi trường đường đại và điền kín các khoảng trống theo phong cách trang trí đồ gốm từ bình tuyến Phùng Nguyên. Các loài thường thấy bao gồm chim các loại, trong đó ưu thế thuộc về chim nước thể hiện bằng chân cao, mỏ dài (cò, bồ nông, ngói…), công thể hiện chùm đuôi lớn có vòng tròn, đầu có mào lông, mỏ ngắn, chân cao. Gà nuôi thường bên chõ người giã gạo và sàng gạo, tượng gắn trên đồ đựng hay chuôi kiếm. Cá, cá sấu, cá đuối là những con vật thường thể hiện dưới nước. Hươu, nai, cáo, thú có cánh, hổ, voi và trâu bò là những loài thú trên bộ. Rồng, phượng… xuất hiện khá muộn về sau, khoảng trước sau công nguyên. Điều dễ thấy là hiếm thấy hoa, cây cỏ trong nghệ thuật tạo hình Đông Sơn.

Tượng khối: Nghệ thuật Đông Sơn chủ yếu là khắc chìm trên mặt phẳng. Tượng khối Đông Sơn không phổ biến, nhưng cũng không phải là quá hiếm hoi. Tượng thú và tượng người thường được gắn trên các đồ dùng hay cán dao găm. Thường thấy tượng hổ, bồ nông, cóc. Tượng người trên thạp Đào Thịnh là hiện tượng rất hiếm, không phổ biến như cách thể hiện của nghệ thuật Điền (Vân Nam, Trung Quốc), tuy nhiên lại thấy tượng người trên cán tay cầm dao găm rất phổ biến và đa dạng tạo nên phong cách đặc trưng Đông Sơn (sẽ có một bài riêng về đề tài này).


Ảnh trên, trái : Vòng tay bằng đồng mô phỏng mây tre đan viền đàn cá sấu (hoặc ếch nhái) nối đuôi nhau.
Sưu tập Phạm Lan Hương, Paris
Ảnh trên, phải : Khối tượng thể hiện cảnh dàn nhạc Đông Sơn.
Sưu tập Phạm Lan Hương, Paris
Ảnh dưới : Băng trang trí hình thuyền trong lễ hội khải hoàn trên thạp đồng Đông Sơn. 
Sưu tập Bảo tàng BarbierMueller, Geneva

Vò bằng đồng trang trí hoa văn Đông Sơn. Sưu tập tư nhân, Hà Nội

1. Trâm cài đầu bằng đồng thể hiện hình cây vũ trụ có nhiều chim đậu.
Sưu tập Đặng Tiến Sơn, Hà Nội
2. Một bên của móc thắt lưng bằng đồng hình rùa và cóc
Sưu tập Đặng Tiến Sơn, Hà Nội
3. Hình mô tả gà trên thạp đồng Hợp Minh. Sưu tập Bảo tàng Yên Bái
4. Chuôi kiếm bằng đồng trang trí hình con hổ. Sưu tập Hioco, Paris 
5. Một bên móc thắt lưng bằng đồng có hình chim bồ nông.
Sưu tập Bảo tàng Barbier-Mueller, Geneva
6. Chuỗi cá sấu (hoặc ếch nhái) trên vòng đeo tay bằng đồng.
Sưu tập Bảo tàng Barbier-Mueller, Geneva

Cảnh trâu đi tơ trên trống đồng Đông Sơn khai quật ở Động Xá (Hưng Yên). Sưu tập Bảo tàng Hưng Yên

Rìu chiến trang trí thuyền và cảnh chó săn hươu. Sưu tập Bảo tàng Barbier-Mueller, Geneva

Thạp đồng Đông Sơn có quai xách. Sưu tập Bảo tàng Barbier-Mueller, Geneva

Tấm che ngực bằng đồng. Sưu tập Bảo tàng Barbier-Mueller, Geneva

b. Mỹ thuật ứng dụng Đông Sơn

b.1. Mỹ thuật ứng dụng trên đồ đồng Đông Sơn

Mỹ thuật ứng dụng Đông Sơn tiếp nối truyền thống mỹ thuật ứng dụng từ bình tuyến Phùng Nguyên với nội dung chính là tô điểm, làm đẹp, làm sang trọng những vật dụng, vũ khí hàng ngày. Như đã nói ở phần trên, chính sự phát triển, phân tầng xã hội đã đặt ra nhu cầu phân cấp đầu tư lao động nghệ thuật cho các sản phẩm tương ứng với từng đối tượng sử dụng. Giá trị kinh tế, xã hội và thẩm mỹ nằm ở đâu từ sáng tạo nghệ thuật đó.

Trong số các vật phẩm được đầu tư lao động nghệ thuật nhiều nhất phải kể đến hệ thống đồ nghi lễ. Chúng ta hiện chỉ còn những đồ nghi lễ Đông Sơn bằng kim loại. Những đồ nghi lễ bằng tre gỗ, sơn then đáng tiếc đã không lưu giữ được. Bộ đồ nghi lễ Đông Sơn bao gồm đồ đựng rượu như thạp, thố, muôi múc, vò, liễn, mâm, đèn… và nhạc cụ (trống, chuông…). Đó là những dụng cụ dùng trong nghi lễ tín ngưỡng, hội hè của cộng đồng hay dành riêng cho tầng lớp trên. Những vật dụng này đều ít nhiều được trang trí, trong đó có những vật được đầu tư trang trí rất cầu kỳ.

Loại hình hiện vật thứ hai được đầu tư nghệ thuật nhiều đó là đồ phục trang và trang sức. Đồ phục trang là những hiện vật đồng gắn với trang phục, như khóa thắt lưng, tấm đeo ngực (hộ tâm phiến). Đồ trang sức là những vòng tay, đai đội đầu, ốp chân. Trong đó khóa thắt lưng đồng Đông Sơn là những tác phẩm nghệ thuật tượng khối khuôn sáp mất độc đáo, sẽ được trình bày trong một bài riêng. Nhóm vòng ốp chân tay có nhạc phổ biến của nhóm Đông Sơn Làng Vạc cũng sẽ được dành riêng để mô tả.

Cuối cùng nhóm vũ khí dành cho các thủ lĩnh, quý tộc cũng là đối tượng được đầu tư trang trí nghệ thuật nhiều nhất. Điển hình là các chuôi dao găm, chuôi kiếm, lưỡi rìu, giáo, qua đồng. Chúng tôi cũng dành riêng một bài để mô tả.

b.2. Mỹ thuật ứng dụng trên các sản phẩm trang sức bằng đá, mã não, thủy tinh

Những xưởng chế tác vòng Đông Sơn đã được khai quật ở Cồn Cấu, Mã Chùa và Núi Sen (Thanh Hóa) xác nhận sự ưa thích khá đơn điệu của loại hình khuyên tai xẻ rãnh hình vành khăn. Bù vào đó là nhu cầu nhập khẩu từ phía Nam những hạt chuỗi màu xanh, đỏ đậm, vàng bằng mã não, thủy tinh… Những chuỗi vòng cổ được chế tác hiện diện yếu trên ngực các tượng nữ làm cán dao găm ở vùng Thanh Hóa và Nghệ An. Số quý tộc sử dụng những hạt chuỗi nhập khẩu này chỉ nhiều lên ở khoảng bị nhà Hán đô hộ trước sau công nguyên. Dường như đồ trang sức bằng đồng mới là mốt thời thượng Đông Sơn.

b.3. Nghệ thuật trang trí trên vải và trên tre gỗ thời Đông Sơn

Gần đây nhờ cố gắng khai quật và xử lý của Trung Tâm Tiền sử Đông Nam Á chúng ta bắt đầu có tư liệu về nghệ thuật trang trí trên vải Đông Sơn. Vải Đông Sơn được chế chủ yếu từ sợi thực vật gai và lanh, xe theo chiều chữ Z. Kiểu dệt phổ biến là kiểu dệt đơn, khung lưng, khổ nhỏ. Tuy nhiên đã xuất hiện những cố gắng trang trí mang tính mỹ thuật đối với vải trang phục thể hiện trên hai khía cạnh: thực hiện những kiểu dệt đúp phức tạp nhằm tạo ra mặt vải dày và đường gai đẹp hơn và dùng các loại sợi lanh, lụa nhuộm màu đặt xen trong go và tạo nên những băng màu dày, thưa khác nhau chạy dọc thân vải. Một số hình người Đông Sơn được thể hiện mặc những trang phục tạo bởi những tấm vải nhuộm vậy. Ở một số trang phục tùy táng đã phát hiện việc buộc đính no, tua ngù hoặc thêu trên vải may quấn áo. Do tính độc đáo của nghệ thuật trang trí trên vải, chúng tôi cũng dành riêng một phần để giới thiệu chi tiết hơn.

Thời Đông Sơn đã rất phát triển nghề sơn then. Nghề sơn then Đông Sơn nằm trong khối văn hóa sơn then của người Bách Việt phát triển rực rỡ từ giữa thiên niên kỷ 1 trước Công nguyên. Ngôi mộ Đường Dù mang theo nguyên bộ mô phỏng dụng cụ sơn then. Rất nhiều mộ quan tài thân cây khoét rỗng Đông Sơn đã phát hiện nhĩ bồi (đồ uống có hai tay cầm hình tai người), cốc, mâm, đĩa sơn then nhiều màu rất đẹp. Nền nghệ thuật sơn then sau này ở Việt Nam đã được khởi đầu từ trong lòng văn hóa Đông Sơn và trở thành một bộ phận không tách khỏi của bức tranh tổng hòa lịch sử mỹ thuật Việt Nam.


Hai ảnh trái: Chuông hình trống thu nho. Sưu tập Đặng Tiến Sơn, Hà Nội. 
Ảnh phải Chuông hình trống thu nhỏ. Sưu tập Bảo tàng Barbier-Mueller, Geneva

3. Mỹ thuật Đông Sơn – sự tiếp nối nghệ thuật trang trí gốm Phùng Nguyên và ảnh hưởng đậm nét trong mỹ thuật Đại Việt sau này

Nhiều nhà nghiên cứu đã nhận ra dấu ấn sau một ngàn năm của nghệ thuật trang trí trên gốm bình tuyến Phùng Nguyên trên nghệ thuật trang trí đồ đồng Đông Sơn. Ý nghĩa lớn lao nhất của phát hiện này là sự khẳng định tính liên tục trong lịch sử phát triển văn hóa thời tiền sử muộn ở Việt Nam từ 4000 năm lại đây.

Đối với nghiên cứu mỹ thuật, phát hiện này cho phép giải mã các ngôn ngữ mỹ thuật đặc trưng, các ứng dụng và biến thể từ trang trí gốm vào trang trí kim loại, từ đồ họa hình học thành đồ họa tả thực. Sau một ngàn năm mất độc lập, trong nghệ thuật Lý Trần, thậm chí cả trong nghệ thuật trống đồng, trên cạp váy Mường, trên hoa văn Tây Nguyên, hoa văn Hmông–Yao và cả ở nghệ thuật hải đảo Đông Nam Á vẫn phảng phất những nét Đông Sơn. Không phải vô lý, vào năm 2000, UNESCO đã hỗ trợ cho các nhà khoa học Malaysia tổ chức một Hội thảo Quốc tế với chủ đề: Dongson Culture and Tradition (Văn hóa Đông Sơn và Truyền thống Đông Sơn). Đây cũng là một nội dung lớn sẽ được viết trong một chuyên khảo riêng biệt.

Do khối lượng đồ sộ cả về tư liệu lẫn vấn đề, nên bài viết này mới chỉ nhằm phác thảo những nét chung nhất, như một “dẫn luận” cho loạt bài đi vào phân tích, giới thiệu từng nhóm di vật phản ánh đỉnh cao mỹ thuật tiền sử Việt Nam hy vọng giúp bạn đọc hiểu thấu đáo về một nền nghệ thuật rực rỡ và độc đáo của dân tộc.

N.V

Bài đã in trên Đặc san Nghiên cứu Mỹ thuật Số 1, tháng 3/2010