VÀI NÉT VỀ SỰ PHÁT TRIỂN CỦA ĐÌNH LÀNG VÙNG CHÂU THỔ BẮC BỘ

Thế kỷ XVI, mô hình dân chủ làng xã ổn định, đình làng trở thành trung tâm chính trị – văn hóa – tín ngưỡng của làng xã. Đình Thụy Phiêu (Ba Vì, Hà Nội) hiện nay tạm coi như là sự khẳng định dấu ấn còn lại sớm nhất chứng minh cho sự ra đời của đình làng. Niên đại tu bổ của nó được ghi trên kiến trúc vào năm Đại Chính thứ 2 (1531). Đình làng Lỗ Hạnh (Hiệp Hòa, Bắc Giang) cũng xác định được niên đại ra đời là 1576. Từ đó, các nhà nghiên cứu đã quy chiếu phong cách nghệ thuật để xác định đình Tây Đằng (Ba Vì, Hà Nội), đình Thổ Hà (Việt Yên, Bắc Giang) được làm vào thế kỷ XVI, cùng đó là đình Phù Lưu (Từ Sơn, Bắc Ninh) cũng được đoán định có phong cách mỹ thuật vào cuối thế kỷ XVI đầu thế kỷ XVII. Qua bia ký các nhà nghiên cứu còn phát hiện rất nhiều ngôi đình được dựng mới vào thế kỷ XVI. 

Từ thế kỷ XVI – XVII đến nửa đầu thế kỷ XVIII, tình hình chính trị thay đổi, nội chiến Mạc – Trịnh – Nguyễn rồi Trịnh – Nguyễn kéo dài liên miên, chính quyền cai trị ở trung ương không vươn về tới tận làng xã, nơi giao chiến của các thế lực tập trung nhiều vùng Bắc Trung Bộ. Ở Bắc bộ, tuy làng quê không ảnh hưởng nhiều của trận mạc nội chiến, nhưng đình làng cũng chưa thực sự phát triển. Từ thế kỷ XVI đến hết nửa cuối thế kỷ XVII, đình làng vẫn lác đác được xây mới, nhưng 20 năm cuối thế kỷ XVII – đầu thế kỷ XVIII (đời Chính Hòa) thì đình làng mới thực sự phát triển mạnh. 

Đình Lỗ Hạnh
Đình Ngọc Than
Đình Tây Đằng, thế kỷ 16, Quảng Oai, Hà Nội
Đình Thổ Tang

Năm 1786, Nguyễn Huệ lấy danh nghĩa phù Lê, tiến ra Bắc để lật đổ chúa Trịnh. Năm 1788, Nguyễn Huệ lên ngôi hoàng đế đánh tan quân Thanh, kết thúc vương triều Lê. Năm 1802, Nguyễn Ánh đánh bại Tây Sơn, lên ngôi hoàng đế lấy niên hiệu Gia Long, triều Nguyễn mở ra thời kỳ thống nhất. 

Cuối thế kỷ XVIII sang thế kỷ XIX, hệ thống cai trị của chính quyền trung ương về tận làng xã, vua Gia Long đề cao Nho học. Giai đoạn này, cơ cấu làng xã đã chuyển dần sang hình thái mới, hình thức tự chủ làng xã dần mất đi, thay vào đó là sự ảnh hưởng của giới Nho sỹ và kỷ cương của triều đình. Từ đó, không gian đình làng dần bị đóng kín, mất đi chức năng ban đầu của nó, ngôi đình làng trở thành địa điểm của mốt số người có thế lực và địa vị, chức năng thờ cúng được đề cao và mở rộng. 

Sự thăng trầm của đình làng luôn phụ thuộc và hoàn cảnh lịch sử từng giai đoạn, tác động rất lớn đến nghệ thuật kiến trúc. Thế kỷ XVIII đến thế kỷ XIX, nghệ thuật trang trí đình làng đi xuống. Chất bộc trực, mạnh mẽ, hào sảng của người nông dân say đắm tự do thể hiện trên trang trí kiến trúc đình làng được thay bằng tính quy phạm, đơn điệu, áp đặt của lễ giáo Nho học và kiểu thức cung đình.

Những ngồi đình được dựng mới từ cuối thế kỷ XVIII, sang đầu thế kỷ XIX dần có sự chuyển hóa thành ngôi đền. Tính chất đặc trưng của kiến trúc đình làng dần mất đi, hình thức trang trí của kiến trúc đình, đền, chùa được hòa vào làm một.

N.Đ.B

(Trích trong chuyên đề nghiên cứu Hình ảnh con người trong trang trí kiến trúc đình làng Bắc Bộ của Nguyễn Đức Bình)